CHUYỆN ĐỜI KỂ NHẸ MÀ ĐAU
Bùi Phan Thảo
Khi nhận tập truyện ngắn của Trần Hà Yên, tôi không ngạc nhiên, bởi tôi hiểu sau những tập thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, con người nhà giáo, nhà thơ Trần Hà Yên sẽ kể cho bạn đọc những câu chuyện bằng văn xuôi bởi sự thấu hiểu nỗi đời, nỗi người phía sau những giờ đứng trên bục giảng. Chiêm nghiệm cuộc sống, vốn sống dày lên, Trần Hà Yên gửi đến người đọc những câu chuyện đời thường qua tập truyện ngắn “Tia nắng mồ côi”, NXB Hội Nhà văn, 2023.
Với 25 truyện, hầu như là những chân dung nhân vật, qua đó những câu chuyện đời được kể một cách dung dị, chân thành, những người với xuất thân khác nhau trong xã hội, đều có những được mất, buồn vui, khổ đau và hạnh phúc, những giằng xé tâm can, những ám ảnh khôn nguôi bởi những bất hạnh, lỗi lầm...
Trong truyện ngắn “Gặp lại”, Trần Hà Yên đặc tả không gian nông thôn một cách sống động với những con người chân chất. Nhân vật chính, ông Toan đã lên hàng lão vẫn cứ lóng ngóng khi gặp lại người yêu cũ. Ông lắm khi bực bội bà vợ già xấu, lắm mồm nhưng yêu chồng con để ông luôn là ông chồng tốt bụng, nay gặp lại người yêu cũ thì vẫn là anh người yêu tốt bụng ngày nào. Chi
tiết ông lấy tiền để dành trong ví ra, dúi tiền cho người yêu cũ khiến cô người yêu cũ cũng bất ngờ nhưng không kịp trả. Xe chạy đi, ông nói với theo rằng đó là quà cho mấy đứa cháu. Nghe thương làm sao, chuyện của người già.
“Chiều cuối năm” cứ đọng lại ánh mắt của Hiền. Câu chuyện của Hiền trong truyện ngắn này có thể đã từng nghe, có thể quen thuộc, nhưng đó là câu chuyện đời thường, về một điển hình hồng nhan bạc phận, về những đổi thay của dòng đời và thân phận con người. Truyện đơn giản mà dư âm buồn cứ mang mang.
Phải nói Trần Hà Yên có lối kể chuyện chân chất nhưng rất có duyên. Tác giả khá thành công trong khắc hoạ tính cách nhân vật. Trong truyện ngắn cùng tên, con Chúc trước khi chết đã nói dối để người thân trong nhà ăn Tết vui.
“Khác hẳn những lần trước, lần này về nhà, con Chúc nói chồng nó đã thay đổi rồi, không còn sinh hư nữa, đã chịu khó đi biển làm bạn cho mấy ghe lớn và đã biết trông con cho vợ làm việc nhà. Ai cũng đoán thằng Nên thay đổi vì đã biết thương con, điều đó làm cả nhà ai cũng mừng. Đám giỗ hôm ấy vui hẳn lên, mọi người cười nói nhiều hơn, con Chúc cũng vậy”. Nhưng ai ngờ sau đó là cái chết thương tâm của Chúc bên gành đá, không rõ do tai nạn hay tự tử, để lại nỗi buồn và cái nghèo đeo đẳng chồng con.
Những nhân vật, câu chuyện dường như là những phận người quanh ta, ta gặp hàng ngày. Những nỗi buồn thương rồi cũng phải bỏ qua một bên để vươn lên mà sống, cũng phải sống như Vinh trong “Người lấy số khám” với con gái tật nguyền, con gái đã “gánh bất hạnh cho cả nhà” nên gắng sống lo cho con. Cuộc đời trôi đi như nắng mưa, hết ngày lại đêm, vẫn le lói tình người, gia đình chồng cho cô bán 2 công ruộng dù vợ chồng không ở với nhau, dù chồng cô mất tích, không về.
Những truyện Trần Hà Yên viết trong bối cảnh bệnh viện đều là những truyện hay, nhiều chi tiết đắt và sống động. Trong “Nắng cuối ngày” là nhân vật bệnh nhân nữ. Không phải dễ khi viết ra nhẹ nhàng mà chí lý như thế này nếukhông phải là người am hiểu bệnh viện: “Vả lại, biết tên nhau ở đây để làm gì bởi người đến nhập viện và ra viện cứ liên tục, chưa kịp thân đã thấy vắng bóng. Ở đây, chẳng ai quan tâm đến tên đẹp hay xấu bởi điều đó không có nghĩa gì khi sự sống và cái chết luôn kề cận nhau. Ở đây, khi nói chuyện về nhau, người ta còn dùng những tên bệnh thay tên thật cho dễ nhớ nữa”. Những đoạn đặc tả quang cảnh, hoạt động của bệnh viện như những thước phim. Tác giả cũng lấy đi nước mắt người đọc đoạn người bệnh gặp con gái, phút cuối đời của một kiếp người. Giọt nắng cuối ngày đã tắt, một người đi về cõi vĩnh hằng.
Còn với “Khi chiều buông xuống”, tác giả đem đến cho bạn đọc một thực tế nghiệt ngã ở nhiều gia đình: con cái không hiếu thảo, thậm chí bỏ rơi cha mẹ. Chỉ những người bệnh cùng ông Năm để ý rồi hiểu hoàn cảnh của ông, cùng nhau chăm sóc, tương trợ, động viên ông trong những ngày nằm viện. Tình người quý giá bao nhiêu thì người đọc càng căm giận những đứa con bất hiếu, bất nhân ở giữa đời.
Với “Đêm trên phố”, tác giả dựng chân dung người đàn bà tên Vân day dứt, băn khoăn nên trở về hay không với chồng cũ và con cháu sau những bôn ba, mất mát trong đời, những đêm trong căn phòng trọ tồi tàn đi bán bánh rán nhìn chồng, con, cháu. Cả chồng và cô đều có lỗi, liệu có cần một sự tha thứ cho nhau để sống nốt những tháng ngày còn lại?
Ai cũng có lúc giận mất khôn để rồi hối hận. “Cô còn nợ con” kể về hai cậu học trò nhỏ, lỗi nhỏ nhưng cô hiểu lầm. Sau đó cô mới biết hoàn cảnh đáng thương của Nam và sự hết lòng vì bạn của An. “Nhìn hai cậu học trò vui mừng trở về chỗ ngồi của mình, Hương biết mình cũng còn nợ hai cậu trò nhỏ đó một lời xin lỗi về những nhận định vội vàng của cô chiều qua”.
Tập truyện cũng có những chi tiết diễu nhại duyên dáng, không thể không cười, như truyện “Đám giỗ nhà thằng Tí”. Tác giả mô tả rất hay, từ chuyện làm gà vịt, quát mắng, sắp đặt, bày biện, rồi lau chùi bàn thờ, thành kính khấn vái, vợ gọi nói gì đó nhưng Tí Em không nghe mà còn tỏ ra bực mình. “Tí Em bước ra gian ngoài đảo mắt tìm vợ định hỏi cho ra nhẽ. Tự dưng nó nghe man mát ở phía dưới…Chết chửa! nó đang ở trần, đã thế còn mặc nguyên cái quần đùi rách đũng mặc ngủ đêm qua với vợ mà đứng cúng suốt từ nãy đến giờ!”.
Truyện của Trần Hà Yên còn cho thấy một chân lý: Dù bất luận hoàn cảnh thế nào, cuộc đời này còn rất nhiều người tốt. Với “Bà Hai Xẩm”, bên trong cái vẻ thô thiển của vóc dáng và giọng nói to khoẻ của người đàn bà gốc Hoa đôi khi làm các bệnh nhân khác mất ngủ là một tâm hồn nhân hậu, yêu đời, biết quan tâm đến mọi người. Chính đất nước và con người Việt Nam đã cho bà Hai Xẩm cuộc đời như bây giờ. “Chiều nay Hiền ra viện rồi, cô thầm mong cho bà và các bệnh nhân khác mau khoẻ. Bà hãy sống thật lâu và yêu đất nước này thật nhiều bà nhé!”.
“Chiều muộn” được tác giả phân tích tâm lý người đàn bà không chồng, không nhan sắc lại nghèo khó thật đơn sơ mà thấm thía, cảm giác tê tái của người “có quá nhiều cái không” như thấm qua trang sách đến với người đọc để cảm thông cho một kiếp người, “chiều đã muộn thì chỉ còn sương rơi ướt lạnh mà thôi”.
“Tiếng khóc của người đàn ông”, là bi kịch liên tiếp giáng xuống đời người. Người vợ mất, đã đành, người chồng còn sống trong tiếc thương và xót xa đứa con gái chậm phát triển bị kẻ xấu lợi dụng làm cho bé có thai. Một nỗi tuyệt vọng, không có lối ra…
“Niềm hạnh phúc” là một truyện ngắn đáng đọc, gần gũi đời thường và đậm chất nữ quyền. Phản ứng của Mai trước người chồng gia trưởng sau bao chịu đựng dồn nén là tất yếu. “Mặc thái độ chồng như vậy, Mai vẫn quyết định làm theo ý mình. Lần này thì cô không cần biết Hoan có giận hay không nữa.
Tại sao cô lại phải nhìn sắc mặt của chồng mà sống? Cô không muốn mình giống như bà mẹ của Hoan, sống như một cái bóng bên chồng, cúc cung tận tuỵ một đời, chỉ biết nghe và làm theo ý chồng, mà không biết hạnh phúc đích thực là đâu. Với Mai, hạnh phúc giản đơn là được sống và làm theo những gì mà mình thích. Mai sẽ sống cho mình ở việc làm đẹp này và cô cũng muốn qua đây sẽ thay đổi dần cách nhìn, cách sống của Hoan. Anh mới chính là người cần thay đổi để phù hợp hơn với cuộc sống vợ chồng”.
Qua “Yêu muộn”, tình yêu của những người lao động nghèo được viết với rất nhiều thiện cảm, thể hiện rõ tính cách của người miền Nam, người Sài Gòn, hào hiệp, chân tình. Thấy anh chàng goá vợ và người đàn bà dở dang duyên phận bắt đầu đến với nhau, cả xóm nghèo hết lòng vun vén, không gian xóm nhỏ, nhà nhỏ sáng hẳn ra trong tình yêu của con người…
Hầu hết những truyện ngắn trong tập này đều được viết với văn phong giản dị, lối kể chuyện trực diện, chân thành. Đa số nhân vật là những người lao động bình dân, một số ít là công chức, giáo viên; không có những chân dung đặc tả về tầng lớp trung lưu mới nổi, những doanh nhân thành đạt hay những góc khuất khác của xã hội. Nhưng qua từng truyện, người đọc vẫn nhận ra không gian, bối cảnh sống chủ yếu ở vùng đô thị, công nghiệp, nông thôn vùng ven, bức tranh xã hội hiện đại với những cung bậc trầm là đủ để hoà mình vào trang sách với tình cảm yêu ghét rạch ròi…
Dĩ nhiên, bớt đi những dạng ghi chép mà thêm tình tiết, đối thoại, đẩy lên cao trào mâu thuẫn và tháo gỡ những nút thắt, một số truyện ngắn trong tập này sẽ hấp dẫn hơn. Nhưng điều cần nhất là những thông điệp đời sống thì Trần Hà Yên đã chuyển tải được, đó cũng là một thành công. Đọc hết tập truyện, càng thêm yêu quý cuộc sống này và những giá trị vĩnh hằng của lòng
khoan dung, sự tử tế. Xét cho cùng, của cải vật chất đều là phù du khi con người mất đi niềm tin, niềm vui sống, không còn sức lực để ở lại với cuộc đời này. Cái đáng mất rồi cũng sẽ mất đi, cái đáng còn thì mãi tồn tại, vĩnh cửu. Đó là những chân lý sống đơn sơ nhưng không phải ai cũng nhận diện được trong đời.
Xin chúc mừng nhà văn Trần Hà Yên.
Đăng bởi hongha83 vào 03/02/2026 13:21
CỘT MỐC MỚI CỦA TRẦN HÀ YÊN
Quang Phan
Đối với tôi và một vài người khác, Trần Hà Yên là bạn văn vừa lạ lại vừa quen. Nói vậy, bởi cũng mới gần đây thôi tôi mới được gặp trực diện nhà thơ nữ quê gốc Quảng Ngãi trong vài lần giao lưu với các nhóm bạn thi nhân của Hội Nhà văn TP. HCM. Quen bởi tôi đã từng đọc thơ chị từ vài năm trước lúc đó bút danh còn mang tên thật là Minh Hạnh với Mùa nắng hanh vàng là “đứa con đầu lòng” của chị. Đúng như trong tưởng tượng của mình, đó là người phụ nữ duyên dáng, cách nói chuyện dịu dàng cuốn hút bởi chất giọng pha lẫn Hà Nội, Phú Yên và chút sâu lắng của xứ Quảng. Cũng đôi lần rảnh rang dạo bước vào trong các trang báo điện tử Văn chương TP.HCM, Xứ Nẫu, Văn học Sài Gòn... mà tôi tình cờ bắt gặp Trần Hà Yên qua góc nhìn của những cây bút bình văn sâu sắc. Có lẽ cũng là nhà thơ đồng thời là nhà giáo nên chúng tôi cũng có sự đồng điệu hơn trong cách giao tiếp theo kiểu “giác quan thứ 6” của nghề nghiệp.
Ngày 3 tháng 8 là ngày vui của Trần Hà Yên khi có buổi ra mắt 2 tác phẩm Tia nắng mồ côi và Đi qua miền khát. Có thể coi đây là cặp “con sinh đôi” của cây bút nữ vừa có sở trường văn xuôi và vừa sáng tác thơ trong năm 2023. Đó cũng là ngày vui của bạn bè, gia đình, đồng nghiệp khi được giãi bày tâm tình và sẻ chia niềm vui từng được cất giấu trong những tháng ngày qua. Cũng trong ngày hôm đó tràn ngập lời chúc của bạn bè như nhà văn Trầm Hương, nhà báo Hà Tùng Sơn, nhà giáo Nguyễn Tấn Phát, nhà thơ 84 tuổi Như Vân và rất nhiều thi hữu trong rực rỡ sắc màu của những bó hoa chúc mừng tươi thắm. Như ngày vui đầy tháng của đứa con tinh thần, ai cũng nâng niu cưng nựng một hình hài dễ thương và mong đôi chân của thi ca cứng cáp thêm để đi tiếp.
Dù sáng tác cả đôi tay nhưng phong cách Trần Hà Yên vẫn bộc lộ rõ ranh giới rạch ròi trong 2 thể loại. Tia nắng mồ côi thực sự đã có một diện mạo riêng của tập truyện ngắn mà như chia sẻ của nhà thơ Bùi Phan Thảo là mang văn phong giản dị, lối kể chuyện trực diện, chân thành. Mỗi truyện ngắn của tay viết họ Trần đều được Bùi Phan Thảo soi chiếu ở những góc nhìn cặn kẽ và chỉn chu. Không chỉ đọc để cảm nhận, anh còn bắt được cái hồn trong sâu thẳm của nhân vật và cái tâm lung linh ngời pha lê của người viết gửi gắm vào trong đó qua từng số phận, qua những mảnh đời. Ai cũng trân trọng hơn khi cầm trên tay Tia nắng mồ côi có trang bìa ấn tượng và những trang viết tưởng như chảy lệ đã được nhà văn nữ lao tâm khổ tứ xây đắp nên hình hài khi nằm trên giường bệnh. Tôi cùng đã từng cầm bút trong thời gian điều trị trong BV nên hiểu và đồng cảm được tâm trạng của chính tác giả. Giường bệnh hình như đã trở thành vùng giao thoa cho cảm xúc. Không chỉ còn là những câu chữ trên trang giấy mà ở đó đã có sự cựa mình của nỗi lòng, sự trăn trở dồn lên đầu ngọn bút và sự thăng hoa của cảm xúc. Hình như đâu đó bắt gặp cả nỗi đau của chữ nghĩa, nỗi day dứt của lời thoại và ánh lên chùm hy vọng của từng kết cấu truyện. Đọc Trần Hà Yên tưởng như đâu đó khai căn được cơ số của niềm đau, bình phương hơn luỹ thừa hạnh phúc và có thêm cấp số cộng cho điệp khúc hy vọng. Tia nắng mồ côi đầu chuyện đã bớt lẻ loi vì có thêm bạn đồng hành để đem về một bầu trời sum họp. Tia nắng của số phận dưới ánh chiếu ngòi bút Trần Hà Yên càng thêm rực rỡ để góp tay làm đẹp cuộc đời. Dù mang số phận riêng nhưng tia nắng nào cũng sưởi ấm tình đời, nhuộm thắm tình
người khi vượt qua ngàn giông bão. Như danh riêng, phẩm hạnh trong sáng của một nhà giáo nữ đã soi bóng thường trực trong từng góc khuất của số mệnh cuộc đời hiện lên giữa câu chuyện kể nhân sinh.
Có thể nói, tập thơ Đi qua mùa khát là cột mốc mới trong hành trình dài của chặng đường thơ nhà giáo Trần Thị Minh Hạnh. Đó là bước đi bỡ ngỡ ban đầu của Mùa nắng hanh vàng (2016) đề song hành cùng tập Hát cho tình đã xa
(2017) và cất giọng cùng Em và nỗi nhớ (2018). Không chịu dừng chân ở Giọt thời gian, Trần Hà Yên thanh thản Đi qua miền khát và tạo nên một bước ngoặt kỳ diệu ở tập truyện Tia nắng mồ côi (đều ấn hành 2023). Dù chưa phải là cột mốc cuối cùng nhưng rõ ràng tập truyện ngắn đầu tay của chị đã tạo nên dấu ấn riêng cho gương mặt nhà thơ nữ trên đường chạy 2 môn phối hợp của sân chơi sáng tác. Từ đây có thể ngắm nhìn chị qua những lăng kính khác nhau để thấy rõ hơn sắc màu trong bản hợp xướng ngôn từ. Điểm dừng chân cũng chính là vạch xuất phát trên đường đua mới của chị khi những trang viết văn xuôi rộng mở chào đón nhịp đập ân tình của ngòi bút.
Qua buổi ra mắt 2 tác phẩm, ai cũng thấy, gặt hái được điều đó bởi bên cạnh chị luôn có nụ cười vây quanh. Tình thầy trò đẹp trên từng tin nhắn, nghĩa phu thê mặn nồng trong bát cơm chén thuốc từ đôi tay yêu thương của anh Nguyễn Kim Hùng và tiếng cười nói râm ran của thi hữu giữa mỗi lần tao ngộ dưới ngôi nhà chung ấm áp của Hội Nhà văn. Tia nắng của chị không còn mô
côi giữa cuộc đời vì biết đi qua miền khát để đón những cơn mưa mát rượi giữa trang văn. Chúc mừng chị giữa mùa yêu tháng Tám vàng tươi lịch sử.
ĐI QUA MIỀN KHÁT GẶP MIỀN THƯƠNG YÊU
Trần Mai Hường
Đi qua miền khát là tác phẩm thứ 6 của nhà giáo nhà thơ Trần Hà Yên. Chọn thể loại lục bát truyền thống để đi suốt tác phẩm chị đã tự trồng một vườn tâm dung dị và đằm thắm, ở đó với đôi bàn tay khéo léo, chăm chỉ và cần mẫn của một người đàn bà đa cảm, đa đoan, một tâm hồn trong trẻo vườn tâm ấy đã trổ nhánh và cây trái đang đợi mùa ngọt thơm.
Đi qua miền khát, một cái tên tác phẩm rất gợi, cái miền khát của một nữ nhà thơ thể hiện qua từng con chữ, ngay ở bài thơ đầu tiên, bài Cho ta về lại, cứ đọc chậm đọc chậm từng câu thơ, cái khát khao của người con xa quê, lưu lạc xứ người hiện lên. Âm vang của tiếng chuông chùa, của lòng nhân ái, của cánh đồng lúa, nơi cả cuộc đời cha mẹ vất vả để nuôi ước mơ của con mình thành hiện thực: Đàn cò tung cánh bay cao/ phương xa vời vợi nơi nao cò về… Ngôn từ bình dị mà ở đó chứa cả một trời thương nhớ. Choán đầy trong tâm tưởng là hình ảnh của mẹ của cha, mái nhà nơi ta đã từng sống suốt thời thơ ấu.
Cái miền khát quê ấy còn được tác giả trao gửi trong nhiều bài như: Chốn xưa, Cánh cò là mẹ đêm ngày vì con, Giấc mơ xuân, Hồn quê, Kí ức miền quê ngoại… mỗi bài thơ viết về chủ đề này là một câu chuyện tâm tình, những khát khao muốn được sẻ chia của tác giả cũng như bất cứ người con xa quê nào. Nỗi nhớ ấy đạt đến cao trào khi ta chạm vào bài thơ Mẹ ngồi chải tóc cho con. Muôn đời nay mẹ và con gái bao giờ cũng có những thần giao cách cảm lạ kỳ. Những khúc quanh ngã rẽ cuộc đời, những cay đắng truân truyên con gái mình đã trải dù con có giấu mẹ cũng thấu hết; Mẹ ngồi chải tóc cho con/ ngoài sân nắng ấm vẫn còn đầy hiên/ thương sao tay mẹ dịu hiền/ vuốt ve đi hết ưu phiền trong con… Một đời vất vả khói rơm/ Bây giờ nắng ấm hương thơm đã về/ bàn tay mẹ lại dãi dề/ chải suông mái tóc mọi bề cho con. Đọc khổ thơ kết mà rưng rưng, ta không chỉ hiểu lòng mẹ như biển mà ta còn hiểu xa hơn cả nơi biếc xanh kia là trùng trùng thương yêu.
Đi qua miền khát trong thơ Trần Hà Yên còn là những khát khao được nói hộ nỗi lòng của nhiều số phận đàn bà. Vẫn là những câu lục bát thủ thỉ tâm tình mà xé ruột; Cứ vờ như thế nghe em/ để chong con mắt nhìn xem cuộc đời/ phấn thoa yếm lụa không thôi/ ngát hương da thịt rửa trôi buồn phiền/ cứ vờ khi tỉnh khi điên/ để con tạo cứ tự điền nổi trôi/ dẫu đời bạc phếch như vôi/ cứ vờ em nhé nở môi nụ cười. Trước biên độ đau quá lớn, trước bội bạc của đời của người, thơ chị đã dẫn lối cho người trong cuộc thoát được những sân hận thường gặp để có lối ứng xử cao hơn, nhân văn hơn. Và hơn hết phải tự mình cứu lấy mình bởi mỗi chúng ta là phiên bản duy nhất, không thể thay thế không thể đánh đổi.
Là một người thơ lại là một nhà giáo dạy văn, trái tim của Trần Hà Yên nhạy cảm và đa mang, không chỉ tận tâm với nghề, với các em học sinh thương yêu mà tấm lòng chị còn luôn mở rộng với các tâm tình của đồng nghiệp. Trước những éo le ngang trái mà bạn mình gặp phải thơ chị lại cất lời: Tình duyên lại đến muộn mằn/ Mang bao ngang trái sao đành em ơi/ Trái tim vẫn đỏ giữa trời… Người ta nói thơ tìm được sự đồng cảm sẻ chia là khi đọc bài thơ như thấy tâm hồn mình, câu chuyện của mình ở đó.
Trần Hà Yên cũng vậy, khi khai thác về đề tài tình yêu, những chia ly tan hợp, có thể do những điều khó nói, con sáo đã sang sông, em giờ của người ta mà sao lòng tôi vẫn day dứt nhớ: Phượng hồng đã nở bên sông/ tiếc thương em đã lấy chồng còn đâu/ để tôi dạ luống âu sầu/ thương thương nhớ nhớ đêm sâu một đời/ ngày xưa mắt biếc môi tươi/ say trong ánh mắt rạng ngời cùng ai/ để sâu trong những đêm dài/ lẻ loi tôi nhớ về ai cháy lòng/ em về nơi ấy buồn không/ bên chồng em có hoài mong ngày về/ quê hương xa tít chân đê/ tình xưa đành gửi mây về trao thương… Hay trong bài thơ Trăng khuyết, hình ảnh người con gái với tận cùng cô độc, tận cùng mong nhớ, tận cùng chung thuỷ được tác giả thể hiện tròn đầy trong tám câu lục bát đầy tính ẩn dụ: Em ngồi vá mảnh trăng thâu/ nghe mong manh vỡ đêm sâu giọt buồn/ bên hiên nhà vắng mưa tuôn/ nửa vành trăng khuyết nhớ luồn mắt môi/ thì thôi anh
nhé thì thôi/ hai ta giờ đã xa xôi mất rồi/ nỉ non dế khóc bên trời/ chông chênh em vẫn một đời nhớ anh. Hay ở bài Tháng tư mùa về, những câu thơ tan vỡ theo từng lát cắt cảm xúc của tác giả: Ừ thôi mùa đã vừa sang/ nắng ươm giọt mật trên hàng trầu cau/ ta về đem những thương đau/ thả ra sông bể để mau quên người.
Cuộc đời là những biến đổi không ngừng, mọi chuyện đến với ta đều có nhân duyên của nó. Chỉ ứng xử của mỗi người sẽ khác nhau nhất là ứng xử ấy được đưa vào thơ. Có câu, ngôn ngữ muốn bay cao nhưng lại bị cảm xúc ghì xuống cỏ. Viết thật, thể hiện trung thực cảm xúc cũng là bản lĩnh của người viết, sự đồng cảm của người đọc với tác phẩm sẽ cao hơn, khoảng cách giữa tác giả và độc giả càng gần thì sự thấu hiểu càng lớn. Trần Hà Yên viết về tình nghĩa vợ chồng bằng những câu chữ thật giản dị, nhưng tôi tin chị đã nói hộ được bao trái tim phụ nữ: Xin cho em mượn bờ vai/ để đi qua hết năm dài cùng anh/ Từ ngày tóc vẫn còn xanh/ cầm tay nhau dắt qua ghành rêu phong/ Trải bao mưa nắng long đong/ Yêu thương em vẫn chờ mong trong đời/ chỉ mình em tựa người ơi/ Bờ vai ngày ấy một đời em yêu…
Đi qua miền khát trong thơ Trần Hà Yên còn là một góc đẹp về cái miền khát đúng theo nghĩa đen, đó là mảnh đất Phú Yên quê chồng chị nơi hạnh phúc nhỏ của chị trổ hoa thơm trái ngọt, nơi có 25 năm chị sống và làm việc ở đây. Cái miền đất mùa hè gió Lào nắng cháy ấy, cái khát khao của con người miền Trung chân chất ấy là những cơn mưa từ mẹ trời tưới mát ruộng đồng để mang lại cuộc sống ấm no cho nhân dân. Miền khát này thực và đẹp.
Người ta nói thơ là những hạt ngọc của cảm xúc, nó lấp lánh và thanh khiết, nó như một người tình chung thuỷ. Điều đó đã rất đúng với nhà thơ Trần Hà Yên. Nhưng càng đúng hơn nếu phải trung thực mà công nhận rằng, thơ như một cái nạng kim cương đã đỡ Trần Hà Yên tập đứng vững lên, tập bước chậm từng bước một trước những khúc quanh đời. Trong Đi qua mùa khát này, có nhiều bài thơ chị viết trong khi đang điều trị bệnh, cái khát khao được khoẻ mạnh được sống, được như một người bình thường nó cháy rực rỡ trong trái tim đa cảm ấy. Quên đi bệnh tật để díu dan con chữ, ấy cũng là bản lĩnh. Khung cảnh ấy, từ trường ấy, trái tim dễ khóc dễ cười ấy đã thấu hiểu mình muốn gì, để vượt lên tất cả, để những câu thơ dù chưa thể reo vui nhưng cũng không uỷ mị. Lục bát là một thể loại thơ dễ viết nhưng khó hay, con đường khó này Trần Hà Yên đã chọn để thử nghiệm mình ấy cũng là dũng cảm. Mong rằng chúng ta, những độc giả khi cầm trên tay cuốn sách này hãy đọc chậm để hiểu một Trần Hà Yên trong thơ và cả một Trần Hà Yên sau con chữ để đồng cảm và sẻ chia.
Đăng bởi hongha83 vào 03/02/2026 20:08
ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN VỀ NHỮNG BÀI THƠ TÌNH TẬP THƠ “GIỌT THỜI GIAN” CỦA NHÀ THƠ TRẦN HÀ YÊN
Nhà văn Hoàng Phương Nhâm
Một ngày vui, nhóm chị em bạn chúng tôi tụ tập nhau ở tư gia của nhà thơ Trần Mai Hường mừng kỷ niệm sinh nhật lần thứ “n cộng” của nhà thơ. Tôi gặp nhà thơ Trần Hà Yên ở đó. Trong cuộc vui, Trần Mai Hường giới thiệu một số đầu sách mới ra lò còn đang nóng hôi hổi do chị làm “bà đỡ” trong đó có tập thơ “Giọt thời gian” của nhà thơ Trần Hà Yên. Lẽ dĩ nhiên, tôi được tác giả ký tặng một “Giọt thời gian” có diện mạo xinh xắn, dễ thương. Với thật nhiều cảm tình với ấn phẩm, về nhà tôi dành thời gian đọc, ngẫm ngợi để cảm nhận được những gì nhà thơ truyền tải trong tác phẩm.
Thơ của các nhà thơ nữ thường dành thật nhiều cho tình yêu đôi lứa, dù thiếu vắng hay đủ đầy viên mãn ta vẫn gặp những thảng thốt, những chênh vênh, những tiếng thở dài não nuột. Trong tập thơ GIỌT THỜI GIAN Trần Hà Yên đề cập tới nhiều đề tài nhưng tôi thích những bài thơ viết về tình yêu của chị. Bởi, những bài thơ đó vẽ nên chân dung người phụ nữ Việt Nam, rất Việt, mang tính truyền thống: dịu dàng, đằm thắm, nhẫn nại, bao dung, đã yêu, yêu đến tận cùng. Giống như các bà, các mẹ ta xưa: “Chàng đi cho thiếp theo cùng/ Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam!”. Có rất nhiều người phụ nữ mong được như vậy mà không được như vậy, họ yêu đơn phương người mình yêu trong lặng thầm đau đớn, xót xa.
Này là một dáng lẻ loi đơn chiếc tựa cửa mòn mỏi ngóng trông trong những đêm bầu trời vắng bóng trăng sao, với trắng đêm giấc ngủ không về, trong thăm thẳm sâu ấy chẳng có gì trong trái tim khắc khoải nhớ thương ngoài hình bóng anh ngự trị. Ở nơi nào đó Anh/ Lim dim/ Cà phê giọt đắng/ Có biết đâu/ Trên thềm nhà vắng/ Chiếc lá rụng/ Lẻ loi. Những giọt cà phê đắng đót nơi anh như từng giọt thời gian thong thả vô tư rơi rơi xói mòn dần cuộc thanh xuân mà người ngóng trông không một lời kêu than oán thán, chỉ nhẫn nại buồn và mong nhớ khôn nguôi.
Này là tâm sự của những người đàn bà trước những mối tình một thời trĩu nặng yêu thương đã qua, khi là nỗi niềm của Người cũ, khi là sự hoài nhớ xót xa, tiếc nuối thủa hàn vi bát canh chỉ nấu bằng rau tập tàng do có Gia vị tình yêu/ em nếm/ anh trao/ cái thủa mình thương lửa nhen vừa lúc/ đứa húp/ đứa khen/ chứa chan hạnh phúc nay đã qua rồi/ lửa lạnh tàn tro. (Gia vị tình yêu).
Này là người đàn bà trong Ngày bão về một mình chị phải chống chọi cùng lúc cả ba cơn bão, đó là: Cơn bão chiều nay, cơn bão của thời tiết bất thường, người đàn bà nhìn Mây rách từng khúc/ nhói đau, thất thần chạnh nhớ cơn bão ngày Ta tìm thấy nhau/ giữa bão giông ồn ào sấm chớp/ gió cuộn lên mịt mù lớp lớp/ yêu thương. Và, không có cơn bão nào khủng khiếp hơn khi người yêu thương bỏ đi rồi: Anh - bão về/ chiếc thuyền em chìm đắm/ đứt neo.
Trong tình yêu đôi lứa, người phụ nữ làm Người thứ ba đâu có dễ dàng gì, nhiều khi bị trái tim mù quáng dẫn lối, tưởng được đấy mà mất đấy, đến khi tỉnh lại, họ có còn đủ niềm tin để làm lại cuộc đời mình? Những người đàn bà đơn độc đã có lời đáp bằng cách tự dặn lòng mình, tự vượt qua chính mình. (Em đã dặn lòng).
Trên đây chỉ là vài nét điển hình, theo cảm nhận riêng tôi, về những bài thơ tình trong GIỌT THỜI GIAN của tác giả. Có một điều tôi tâm đắc là cuộc sống gia đình của nhà thơ Trần Hà Yên rất viên mãn, và hạnh phúc. Chị có người chồng luôn yêu thương sát cánh sẻ chia mọi buồn vui trong cuộc sống. Anh yêu chị khi chị là cô giáo. Anh yêu chị khi chị là nhà thơ. Anh luôn là một bờ vai vững chãi để chị nương tựa, một vòng tay đủ rộng che chở những khi gió táp mưa sa. Nhưng những bài thơ tình trong GIỌT THỜI GIAN hầu như chị chưa dành riêng cho tình yêu của mình. Thường những người viết cả văn xuôi và thơ hay đem cái TÔI ra chia sẻ với bạn đọc.
Những bài thơ tình trong GIỌT THỜI GIAN, đã được Trần Hà Yên nâng tầm khái quát lên một bước. Chị lấy những hiện tượng, sự việc của xã hội hiện thực hoá thành nhân vật cụ thể (em, anh) trong thơ. Thiết nghĩ, điều này đã góp phần không nhỏ vào sự thành công của tập thơ GIỌT THỜI GIAN. Xin chúc mừng nhà thơ!
Đăng bởi hongha83 vào 03/02/2026 20:41
ĐI QUA MIỀN KHÁT
Hương Thu
Tôi biết Trần Hà Yên chưa lâu, nhưng chúng tôi có chung một điểm gặp, đó là Những người đàn bà thơ _ hơn thế nữa là những người đàn bà đã vượt qua những thử thách mà số phận đã trao cho họ, với những đau đớn về thể chất lẫn tinh thần. Cách đây hơn hai mươi năm tôi cũng từng phải chiến đấu với các tế bào ung thư ác tính đang manh nha phá hoại cơ thể tôi, và tôi đã chiến thắng, cũng như Trần Hà Yên đã chiến thắng. Chúng tôi nợ nần với con chữ, nên luôn cần mẫn gieo từng hạt mầm trên cánh đồng văn chương với một ước mơ thật bình thường, được ngắm nhìn một ngày hoa trái tươi xinh.
“Đi qua miền khát” là tập thơ thứ sáu của Trần Hà Yên đã được xuất bản. Ngay từ cái tên của tập thơ đã mở ra một thế giới nội tâm rất riêng của tác giả, đầy ước mơ và khao khát. Ở đó có những niềm vui, những nỗi buồn, những suy tư thầm lặng, những trăn trở không nguôi về một nỗi chia xa. Tác giả chọn thể thơ lục bát gần như xuyên suốt tập thơ, như một người đầu bếp biết chọn cho mình thứ gia vị phù hợp để làm tăng hương vị của món ăn.
Những cảm xúc trong “Đi qua miền khát” của Trần Hà Yên tinh khôi như hạt sương long lanh buổi sớm, ấm áp như vạt nắng bên hiên nhà, và thật như chính cuộc sống tác giả đã trải nghiệm. “Một mình/ Chiếc bóng đã quen/ Lặng nghe/ Lá rớt bên rèm/ Chiều thu”.
Trải nghiệm và chấp nhận, chấp nhận tất cả những gì mà cuộc đời trao gởi cho mình, cho dù đó là sự cô đơn dằng dặc, hay nỗi tái tê của một mùa đông lạnh giá “Mùa đông/ Vừa tới anh ơi/ Chạm tay/ Để đón đất trời/ Tái tê”. Nỗi tái tê của đất trời, hay chính là nỗi tái tê trong lòng người đàn bà thơ Trần Hà Yên trước một nỗi đau chia xa?
“Không gian/ Mờ ảo lặng thinh/ Để nghe/ Buồn rớt/ Chúng mình cách xa”. Cách xa và nhớ thương cứ thế như những lát cắt trong thế giới nội tâm của nhà thơ đã tạo ra một không gian thơ bàng bạc buồn nhưng đẹp “Bây giờ một bóng/ Bên đời/ Nhìn hoa tím rụng/ Hát lời/ nhớ thương”.
Không gian tình trong thơ Trần Hà Yên còn mở ra với những cung bậc cảm xúc đa chiều: Với quê hương “Chiều xuân êm ả sáo diều/ Đàn trâu chậm bước/ Trong chiều làng xa/ Gió đong đưa/ luỹ tre ngà/ Mái nhà/ yên vắng/ là đà bóng cây”. Với gia đình “Xa quê nỗi nhớ thiết tha/ Bóng cha dáng mẹ, mái nhà bình yên”. Đó là những “miền khát” trong trái tim nhà thơ, những miền khát làm đau cả câu thơ giữa những nổi trôi cuộc đời. “Dẫu đời Bạc phếch như vôi/ Cứ vờ/ Em nhé/ Nở môi nụ cười”.
Gần một trăm trang với 60 bài thơ, “Đi qua miền khát” như một giàn giao hưởng với những tình khúc đầy cảm xúc, lúc thăng hoa, lúc trầm lắng, lúc chơi vơi, khi tha thiết, tất cả đã phát hoạ được một thế giới nội tâm của Trần Hà Yên khi chị trở về với chính mình. Không khoa trương từ ngữ, không bó buộc bởi những kỹ thuật thơ ca, thật dung dị và chân thành, Trần Hà Yên với “Đi qua miền khát” đã chạm khẽ vào trái tim độc giả là tôi với sự đồng cảm giữa những người đàn bà thơ với nhau.
Đăng bởi hongha83 vào 03/02/2026 20:55
HIỆN THỰC - BAY BỔNG TRONG EM VÀ NỖI NHỚ
Nguyễn Vũ Tiềm
(Uỷ viên Hội đồng Lý luận Phê bình Hội Nhà văn Việt Nam)
Các nhà giáo làm thơ có lợi thế là được sở hữu kho ngôn ngữ chuẩn mực (thường xuyên chấm sửa bài cho học sinh), thơ Trần Hà Yên trong trường hợp ấy, thơ cô trong sáng chân thực không đánh đố, dễ rung động, dễ chiếm được cảm tình của người đọc. Nhưng ngôn ngữ thơ lại cho phép (có thể khuyến khích) sự lệch chuẩn ở chừng mực nhất định. Nhiều trường hợp cái hay của thơ lại ở sự lệch chuẩn ấy:
Người đi mỏi phố mùa chưa cúc
Sắc áo vàng kia nở sớm ư?
(Thơ Hải Từ)
Cô giáo Trần Hà Yên đang thể nghiệm bút pháp ở ranh giới giữa chuẩn và lệch chuẩn. Đây là một ưu điểm đáng ghi nhận:
Khói sương quấn chặt niềm đau
Đem đi bao nỗi u sầu hôm qua.
(Có một chiều như thế)
Niềm đau vốn trừu tượng nhưng có hình ảnh khóisương làm cho nỗi niềm kia hiện hình lên cụ thể và sinh động; từ quấn chặt rất gợi cảm thể hiện sự cảm thông nâng đỡ. Nhưng khói sương thì cũng chỉ là… sương khói phảng phất chốc lát thôi, niềm đau của kiếp người là hiện hữu, may ra vơi được phần nào. Thơ Trần Hà Yên thường trăn trở với những dang dở, ly tán, mất mát để từ đó nói lên niềm khát khao hy vọng về một cuộc sống yêu thương, nhân ái, hạnh phúc tròn đầy.
Dòng sông tháng ba con nước cứ lang thang
Chẳng muốn vui cùng đò ai xuôi ngược
Chỉ còn ta một mình nơi bến nước
Thương nhớ nặng lòng hình bóng người xưa.
(Dòng sông tháng ba)
Dòng sông, con đò mang thương nhớ nặng lòng là tình nghĩa lắm, nhưng sao lại chẳng muốn vui nhỉ? À “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, mới biết tác giả mang nặng nỗi niềm luôn hướng về những nỗi buồn đau. Nhà văn, nhà thơ thường hoá thân vàonhững cảnh ngộ, những số phận, những kiếp người không may mắn, những khổ đau mất mát đặng mà chia sẻ. Công chúng rất
cần những cây bút như thế, nói hộ bà con những suy tư trăn trở, những khát vọng… Làm vơi đi ít nhiều nước mắt trong cuộc đời là thiên chức cao quý của người cầm bút. Tuy nhiên, sự hoá thân này nhiều khi cũng gây nên những phiền phức rắc rối nhất là đối với các nhà thơ nữ, chúng ta nên thông cảm với các chị các cô… Cái tôi tác phẩm không nhất thiết đồng nghĩa với cái tôi tác giả.
Con đường dài trước mặt
cứ hun hút tháng năm
để ghế đá kia nằm
chơ vơ trong chiều nắng.
(Chốn xưa)
Hai câu trên là ẩn dụ khá kín đáo về hành trình cuộc đời, đúng là “cứ hun hút tháng năm”, đi về đâu?Câu hỏi này còn mãi mãi treo lơ lửng trên đầu nhân loại. Cái đích của nó thật mơ hồ. Hai câu sau nhà thơ đưa ta về thực tại: “để ghế đá kia nằm/ trơ vơ trong chiều vắng”, hình ảnh này vừa cụ thể vừa khái quát. Người xa rồi, hồn ta bơ vơ và nhìn xa rộng hơn, cả nhân loại này cũng trong một hành trình vô định của Trái Đất lang thang trong vũ trụ vô biên. Và cũng cô đơn trong sự kiếm tìm, có hành tinh nào có sự sống nữa hay không? Các bạn ở đâu, tìm hoài mà chả thấy, sao không có chút tín hiệu trả lời chúng tôi?
Cảm thức thi nhân hay hướng đến những chân trời vô định, những ranh giới mơ hồ nhưng lại cụ thểvà sâu sắc đến từng sát na trong thời gian vô tận. Vìthế họ ít gặp được sự đồng hành, đồng cảm và luôn thấy cô đơn trong cõi thế. Cảm hứng cô đơn vừa đẹpvừa bi tráng, cổ kim đông tây đã có nhiều bài thơ về nỗi cô đơn này. Trần Tử Ngang đời Đường có nỗi buồn thiên cổ:
Phía trước không thấy người xưa
Phía sau, người chưa tới
Nghĩ trời đất quá mông lung
Đọc câu thơ trào nước mắt.
(Lên đài U Châu làm thơ)
Cô giáo Trần Hà Yên dạy văn ở trường trung học phổ thông nhiều năm, sau những mải mê với thi hứng bổng trầm xa xôi, cô trở lại với thực tại, nơi lưu giữ nhiều kỷ niệm với màu phượng hồng thắm thiết:
Trời vẫn xanh và gió mát trong lành
hoa phượng rơi cháy rực trời tháng sáu
để trong lòng nghe nhói lên đau đáu
xa thật rồi cánh phượng nhỏ mồ côi.
(Cánh phượng mồ côi)
Hai câu trên trong sáng vô tư, câu thứ ba đã “nhói lên đau đáu”, phải chăng cảm hứng về nỗi buồn đau vẫn thường trực trong thi cảm? Có một dạo nỗi buồn bị chê bai, lên án, quy cho là uỷ mị yếu đuối, nhưng thời nay đổi mới, quan niệm đã khác lắm rồi, nỗi buồn trong văn chương là một nétđẹp sang trọng. “Thật xa rồi cánh phượng nhỏ mồ côi”, câu thơ tràn đầy mỹ cảm và thương quý làm sao. Từ “mồ côi” đặt ở cuối câu khá đắc địa và đắt giá.
Từ tập thơ đầu tiên đến tập thơ thứ ba này, thơ Trần Hà Yên đã có những nét chuyển đổi rất đáng ghi nhận, cô đang tìm tòi bút pháp, thi pháp cho thơ mình. Đối với người làm thơ thì bút pháp, thi pháp là điều quan trọng nhất, để có được nét riêng, dấu ấn riêng, hay nói cách khác có giọng điệu riêng tạo nên phong cách tác giả là cả một quá trình nỗ lực suốt đời không mệt mỏi. Lao động thi ca vốn trắc trở gập ghềnh và cũng nhiều mê hoặc, khi đã “dấn thân” thì sự tỉnh táo hộ mệnh là rất cần thiết. Với hướng chuyển đổi tích cực này, tôi tin chắc cô sẽ gặt hái được nhiều thành công hơn nữa.
Đăng bởi hongha83 vào 05/02/2026 17:59
TRẦN HÀ YÊN- HOÁ THÂN CHO TÌNH YÊU TRẺ THƠ
Nhà văn Kao Sơn
Ai trong chúng ta cũng đều đã từng có một tuổi thơ. Và dù tuổi thơ đó có như thế nào, tuỳ từng hoàn cảnh mà lấm láp, chịu nhiều đau khổ, nhiều hắt hủi ghẻ lạnh hay được cưng chiều, vui sướng và tràn ngập hạnh phúc… thì khi đã lớn khôn, đã trưởng thành, trải qua nhiều biến động của cuộc sống, tuổi thơ đó vẫn mãi là một kí ức khó quên, đẹp như một viên ngọc sáng, là một miền đất thiêng liêng để ta luôn muốn được quay về, sống lại, dù chỉ trong tưởng tượng.
Và một trong những chiếc vé có thể giúp chúng ta lên chuyến tàu quay về với tuổi thơ đó là những cuốn sách mà các nhà văn nhà thơ viết về thiếu niên nhi đồng, viết cho thiếu niên nhi đồng
mang lại. Trần Hà Yên là một nhà thơ, Hội viên Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Chị đã có một số tác phẩm văn xuôi và thơ viết cho người lớn được dư luận chú ý. Chị cũng đồng thời là một cô giáo có thâm niên trong ngành giáo dục, nghĩa là Trần Hà Yên cũng đã có một số kinh nghiệm và những hiểu biết không ít về lứa tuổi “Tương lai của đất nước”. Có lẽ chính điều này đã giúp Trần Hà Yên ngay từ cuốn sách đầu tiên viết cho lứa tuổi thiếu niên nhi đồng có nhan đề BÁC SĨ CHIM SÂU- một tác phẩm thơ-nhưng nó cũng đã lập tức chứng tỏ được khả năng “viết cho thiếu nhi” rất đáng trân trọng ở chị.
Trẻ em là tương lai của đất nước. Khi chập chững bước những bước chân đầu tiên vào đời thì đối tượng tiếp cận của trẻ sớm nhất là môi trường sống xung quanh: những người trong gia đình, những con vật, đồ vật rồi rộng hơn nữa là trường lớp, làng xóm, đường phố, cỏ cây, sông núi. Viết cho trẻ là đưa chúng vào chính môi trường sống quen thuộc ấy, giúp các bé nhận ra những tốt đẹp, khơi dậy một cách khéo léo trí tưởng tượng từ những điều gần gũi, dễ hiểu. Các bé thường cảm nhận thế giới xung quanh bằng trực quan sinh động ở ngay Thì Hiện Tại với những hình ảnh, màu sắc, âm thanh cùng những biến động cụ thể của môi trường mình đang sống.
Hiểu được điều này, Trần Hà Yên trong những trang thơ của mình đã mạnh dạn chọn Gia đình và Nhà trường để làm chủ đề chính. Những nhân
vật bao quanh các em như ông bà, cha mẹ, anh chị, thầy cô, bạn bè và cả những con vật nuôi trong sở thú hay trong mỗi gia đình…đều đã được nhà thơ lựa chọn để xây dựng nên một môi trường sống sinh động, gần gũi với trẻ thơ. Nhưng không chỉ đơn giản là “Mô tả, kể ra theo kiểu bày hàng” mà quan trọng hơn, mối liên kết, đặc biệt là tình cảm qua lại, những điều có tác động trực tiếp đến nhận thức của trẻ đã được Hà Yên chú ý thể
hiện: cô giáo cầm tay giúp em tập viết; con chó vàng tối tối vẫn nằm cạnh chân khi bé học bài. Khi cơn giông đang tới, chú chó nhỏ ấy lại cùng em ra ngõ đứng đợi bố mẹ ở đồng về… và đặc biệt, hình ảnh bà ngoại đỡ cho bé tập đi những bước chân đầu tiên là những hình ảnh vừa gần gũi, vừa khơi dậy được những tình cảm gia đình hết sức thiêng liêng để trẻ ghi nhớ như một hành trang cần thiết cho mai này khôn lớn thành người.
Từng bước rồi từng bước/ đầu bạc bên đầu xanh
Mùi trầu không của ngoại/ theo bé từng bước chân…
Văn học thiếu nhi có tác dụng tích cực hình thành nhân cách của trẻ em. Trẻ em ngay từ sơ sinh đã mang trong mình tính Thiện “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Theo đó, con người đã mang tính Thiện ngay từ trứng nước. Cái không thiện, cái ác, cái xấu chỉ nảy sinh sau đó trong quá trình sống, tiếp xúc với ngoại cảnh. Chính vì thế, tâm hồn cùng những nhận thức của thiếu niên, nhi đồng trong giai đoạn đầu của cuộc sống được ví như
một tờ giấy trắng. Hiểu được điều đó, Trần Hà Yên đã không sa vào tư tưởng “Viết cho trẻ con ấy mà”, để dẫn đến lối viết cẩu thả, quàng qué thế nào xong thôi. Như vậy là vô trách nhiệm và đánh giá thấp nhận thức của các em. Hà Yên đã rất tôn trọng những tâm hồn thơ bé ấy.
Trong tác phẩm Bác sĩ chim sâu, tính giáo dục vẫn được đề cao. Nhưng không phải bằng lối rao giảng khô cứng, những áp đặt đi ngược với thiên tính trẻ. Không chỉ giáo dục cho các bé tình yêu ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè, thầy cô… một cách trực diện, tác phẩm này còn bộc lộ rõ
tính giáo dục cho trẻ ý thức cộng đồng, lòng biết ơn những người đã vì cộng đồng mà quên mình. Bài thơ cùng tên Bác sĩ chim sâu là một bài như thế, gợi nhớ đến những người Bác sĩ Áo xanh đã tình nguyện quên mình cứu dân trong đại dịch covit ngày nào. Không cần phải đao to búa lớn, không răn dạy các bé
phải ghi thế nọ, nhớ thế kia... chỉ bằng hình tượng chú chim sâu bé nhỏ, chăm chỉ bắt sâu trong vườn, Hà Yên đã cho ta thấy được hình ảnh đáng trân trọng của những người Bác sĩ vì dân: Từ sớm tới tối mịt/ Gian nguy chẳng nề hà. Cùng bạn bè đồng nghiệp /Bác quên mình xông pha
Khổ thơ cuối của bài thơ: “Rồi bình yên trở lại / Cỏ hoa ngập muôn nơi / Lặng lẽ bác về tổ / Một- chấm- xanh-giữa-trời!” là một chi tiết đẹp, đưa ra được một hình ảnh thật bình dị, thật khiêm nhường của người Bác sĩ Áo xanh. Và chính vì thế đã gây ấn tượng mạnh với người đọc, cả người lớn và trẻ thơ. Bài thơ tuy viết cho thiếu nhi nhưng đã hàm chứa một cách giáo dục nhẹ nhàng cho các bé về tình yêu đồng loại, về ý thức cộng đồng.
Lâu nay, Văn học Thiếu nhi, ở cả lứa tuổi mầm non lẫn lứa tuổi mới lớn, đều đang thiếu một cách trầm trọng và đáng lo ngại về sự vắng bóng của những hình ảnh mang tầm cỡ một Tấm gương hay Thần tượng. Trẻ em có đặc điểm là thích được
chiêm ngưỡng, được học theo, làm theo, noi theo những hình mẫu mà chúng yêu thích hay tôn sùng. Ở thế hệ 5X, 6X trước đây, chúng ta có Tôn Ngộ Không, có Thạch Sanh, có Pa-ven-coc- sa-ghin, Ruồi Trâu, Lưu Kiếm Ba... và gần nhất chúng ta có Phan Đình Giót, Nguyễn Viết Xuân, Nguyễn Văn Trỗi… đó là những anh hùng có xuất thân bình dị nhưng hành động và tâm hồn họ vô
cùng cao đẹp. Họ dũng cảm, sẵn sàng quên mình diệt ác trừ gian để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lẽ phải, bênh vực người yếu. Đồng thời họ cũng là những con người đầy lòng yêu thương, vị tha và nhân ái. Nhưng bây giờ thì sao?!... Thiết nghĩ, Bác sĩ chim sâu đã tiệm cận được hướng giải quyết cho những điều trăn trở đó.
Viết cho thiếu nhi rất cần một thái độ yêu ghét rõ ràng, rành mạch. Cũng nhằm khơi gợi tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau cho các bé nhưng xuất phát từ cái tâm chân thành, không đợi người khác phải cầu xin, Trần Hà Yên đã khéo léo gói trọn tư tưởng ấy trong chỉ một khổ thơ nhỏ của bài Thỏ con và Sóc nâu: “Bất chợt thấy Cáo và Thỏ/ hiểu ngay có chuyện chẳng lành/ chẳng đợi Thỏ con kêu cứu/ Sóc nâu bèn chạy thật nhanh/ gọi thêm
bạn bè cùng tới”- “Gọi thêm bạn bè cùng tới” để làm gì? Nắm được tâm lí không thích bạo lực, và nhất là không muốn làm điều ÁC với bất cứ ai. Bài thơ với câu kế tiếp chỉ dừng lại ở việc những bạn Sóc “Thi nhau la hét rung cành” để doạ “…lão Cáo
già/ có hai hàm răng nhọn hoắt/ từ trong rừng rậm đi ra…” hòng để lão bỏ chạy mà cứu Thỏ. Nếu viết rằng Sóc đã nghĩ ra cách nào đó để trừng trị hoặc giết được Cáo thì e sẽ quá, Trần Hà Yên đã tìm được điểm dừng hợp lí và nhân văn.
Tuy nhiên, để có được một cuốn sách hay cho trẻ thơ tìm đọc, chỉ yếu tố giáo dục không là chưa đủ. Trẻ em ngày nay rất thông minh, hay tò mò tìm hiểu thế giới muôn màu muôn vẻ xung quanh và thật thú vị khi ta thấy các bé thường đặt ra những câu hỏi khiến người lớn nhiều khi phải “vò đầu bứt tai”: Máy bay chỉ toàn sắt thôi/ mà sao chẳng thèm vẫy cánh/… vẫn bay giỏi hơn chim trời? Không thể giải thích với các bé rằng máy bay bay
được là nhờ động cơ hay lực đẩy vật lí mà chỉ có thể lí giải cho con rằng: Máy bay bay bằng nỗi nhớ/ con dành cho Ngoại đấy thôi- Vâng, có nỗi nhớ, người ta có thể vượt qua tất cả mọi lực
cản để đến được với nhau. Có lẽ đây là cách lí giải rất dễ thương, rất tình cảm và có thể chấp nhận được với lứa tuổi trẻ thơ trong tác phẩm của Trần Hà Yên. Trẻ thích đi học, thậm chí đã biết được lợi ích của việc đi học, nhưng các bé cũng hay mải nghịch lắm. Một tiết học do cô giáo bận gì đó cho cả lớp được nghỉ thì đó luôn là một cơ hội tuyệt
vời để được cùng nhau chơi những trò yêu thích. Thường thì hết giờ học ở trường, các bé sẽ về nhà nghỉ ngơi, ôn bài, làm bài tập xong thì được đi chơi. Nhưng nếu được nghỉ đột xuất một vài
tiết ở trường lại khác, các bé sẽ mừng hơn, vui hơn, sẽ có nhiều bạn và nhiều trò nghịch ngợm hơn. Mà đã chơi thì phải la hét mới thật sảng khoái. Nhưng vì để tránh bị cô nghe thấy lại xuống kiểm bài cho nên trong bài thơ Không được hét, các bé “chỉ được hét thầm thôi” vì lẽ đó, tâm lí, tâm trạng của các bé ở đây được nhà thơ diễn tả rất phù hợp với hoàn cảnh, rất trẻ con và cũng rất dễ thương!
Lém lỉnh và thông minh, bài thơ Bọn con 10 điểm là một phát hiện rất thú vị về sự thông minh đến tinh quái và lém lỉnh của con trẻ. Bị bố hỏi: con hôm nay đi học được mấy điểm? biết bố muốn biết điểm học của mình, nhưng hôm đó Tí lại chỉ được điểm 1 thôi vì chiều qua mải đá bóng cùng bạn nên “Hơi quên” không làm bài. Nhưng nếu trả lời thật thì gay. Thế là cu cậu vò đầu bứt tai, tính ngay nước ăn gian bằng cách gom điểm của cả
lũ bạn vào mà đáp: “Bọn con hôm nay 10 điểm”.
Phát hiện được chi tiết này chứng tỏ Trần Hà Yên đã rất hóm, rất hiểu tâm lí trẻ.
Có lẽ chính là một cô giáo có thâm niên, có điều kiện để gần gũi, từng dành cả cuộc đời mình cho việc dạy trẻ nên Hà Yên mới có được cái nhìn như vậy.
Bài thơ “Trốn tìm cùng Gió” lại là một phát hiện tế của Trần Hà Yên:
Lớp em có bạn Gió/ rất giỏi chơi trốn tìm
Đố ai tìm được bạn/ nếu bạn ấy… đứng im
Viết được như vậy chắc cũng đã không ít lần chị bị trẻ chất vấn hoặc chứng kiến những băn khoăn của chúng (Mẹ ơi, gió có hình thù thế nào?) Hà Yên cũng đã chứng tỏ khả năng quan sát tinh tế của mình khi luôn tìm ra được những đặc điểm riêng nhất của từng nhân vật hay những chi tiết đắt nhất, đặc trưng nhất của đối tượng để đưa vào bài thơ. Ví dụ như từ những hình ảnh quen thuộc mặc bờ lu trắng, tay cầm kim tiêm của các bác sĩ mà đa phần trẻ con đều biết, đều nhận ra và nhất là đều…sợ ở ngoài đời thực, Hà Yên đã khéo léo lồng vào, miêu tả hành động đẹp đẽ của các bác sĩ chống dịch covit qua hình ảnh những chú chim sâu dễ thương trong bài thơ mở đầu tác phẩm Bác sĩ Chim sâu như sau: “Bác chuyền cành rất lẹ/ Cái đầu nhỏ ngó nghiêng/ Lũ sâu dù khéo núp/ Bác vẫn tìm ra liền” đây cũng chính là đặc tính tìm mồi của loài chim sâu, không lẫn vào với
bất kì loài chim nào khác mà chị đã quan sát và cảm nhận được.
Hiểu tâm lí trẻ thơ thích nghịch ngơm, thích được la hét, trong bài Phá cỗ trung thu, ở dòng thơ cuối chị đưa liền 3 chữ PHÁ-PHÁ- PHÁ. Nếu nói về luật và kết cấu câu, câu thơ này thừa hai khác đầy tinh
chữ PHÁ. Nhưng người đọc không ai cảm thấy đó là thừa. Đặc biệt, khi trẻ đọc đến đây, có lẽ chúng sẽ bật dậy và hét to PHÁ… PHÁ, thậm chí còn PHÁ nhiều hơn nữa. Có thể nói, làm một bài thơ mà được trẻ yêu thích, cuốn được chúng vào cùng dòng cảm xúc với mình là một thành công của người viết!
Mỗi bài thơ, mỗi câu thơ khi viết cho thiếu nhi đều có một yêu cầu rất cụ thể: cách nghĩ, cách nói, cách thể hiện… phải sao cho không xa lạ với trẻ và cao nhất là phải để chúng thích. Người
viết phải như trẻ thơ để hiểu tâm lí và để cùng chơi với các bé. Rồi phải cùng chúng chơi mà học, học mà chơi, không thể cưa sừng làm nghé, cũng không thể giả vờ ngây ngô. Để làm được điều này, về mặt nghệ thuật tác phẩm, Trần Hà Yên đã cố gắng rất nhiều trong một sự hoá thân gần như tuyệt đối để hiểu tâm lí trẻ thơ, đồng thời đã vận dụng tối đa nghệ thuật của văn học dân gian truyền thống để diễn đạt. Trong suốt tác phẩm Bác sĩ chim sâu, hầu hết chị đều sử dụng thể thơ 4 chữ, 5 chữ hoặc 6 chữ phù hợp với sức đọc, sức nén hơi của trẻ. Biết trẻ em quen nhận thức qua trực quan, chị lấy những hình ảnh quen thuộc để
gợi liên tưởng: Chữ Ô như người đội mũ, chữ T như cây sào, chữ B như cánh bướm hay là giống cánh hoa… thật dễ hiểu và dễ nhớ! Ngoài ra, xét về kết cấu, một số bài thơ đi theo lối vòng tròn của bài đồng dao xưa: “Ông Nỉnh ông Ninh/ Đi đến đầu đình lại gặp ông Lang/ Ông lảng ông Lang/ Đi đến đầu làng lại gặp ông Ninh/ Ông nỉnh ông Ninh…” câu đầu được lặp lại nguyên xi ở câu cuối của bài. Đọc nó, ta hình dung ra các bé
đang nắm tay nhau hát mãi với chỉ một bài, hát đi hát lại, hát đến đầu tóc đẫm mồ hôi mà không biết chán. Dung dăng dung dẻ… là bài thơ trong tập thơ Bác sĩ chim sâu mang phong cách đồng dao khiến trẻ thích thú như thế. Thông thường, khi tiếp cận một bài thơ thiếu nhi, nghĩa của câu thơ ta chưa vội xét đến, nhưng nhịp điệu, ngôn từ, hình ảnh là điều phải được chú ý đầu tiên, tiếp đó là cốt truyện. Nhiều bài thơ được thể hiện dưới hình thức một câu chuyện kể cũng được Trần Hà Yên áp dụng như thế nên rất dễ tạo được sự cuốn hút với trẻ. Phải để các bé thích đã, sau rốt các bé mới cần nhận ra ý nghĩa giáo dục. Đó là
cách dạy: chơi mà học, học mà chơi của cô giáo - nhà thơ Trần Hà Yên. Những bài học, những răn dạy đều được cài cắm một cách tinh tế trong mỗi bài thơ của chị. Nghệ thuật trình bày thoả mãn cách nhìn, nghệ thuật nói thu hút, cách giao tiếp hóm hỉnh, ngôn từ đẹp, những liên tưởng gần gũi, dễ hiểu đầy chất thơ:
“Từng tiếng chim Tu Hú/ gõ vào chiều mê say” hay “Đàn vịt lên bờ phơi nắng/ phơi cả ánh chiều trên lưng”…đã cho người đọc những cảm nhận thú vị cùng những giá trị thẩm mĩ cho bài thơ.
Như vậy, Với Bác sĩ chim sâu, có thể nói Trần Hà Yên đã có được một đóng góp mới mẻ cho dòng văn học thiếu nhi. Bằng sự “Hoá thân thành trẻ thơ” khá nhuần nhuyễn, tự nhiên, giản dị và thông minh, cùng đó là tấm lòng yêu trẻ rất đáng trân trọng, Trần Hà Yên đã có cho mình không chỉ một vé mà rất nhiều tấm vé để có thể ngược dòng thời gian lên chuyến tàu về với tuổi thơ. Và chị đang dành những tấm vé đó tặng cho độc giả của
mình. Tôi chúc cho Trần Hà Yên và các bạn đọc yêu mến của lứa tuổi thần tiên có được những chuyến du hành về với tuổi thơ thật vui vẻ, bổ ích và hạnh phúc.
Thơ của một tâm hồn trong trẻo
Lê Minh Quốc
Khi đến với thơ, con người ta có thể thử sức mình qua nhiều thể loại, đề tài, bút pháp khác nhau. Tuy nhiên, không dễ dàng nhất là lúc bước vào thế giới của con trẻ - một thế giới trong trẻo, hồn nhiên, vô tư buộc chúng ta phải “dọn lòng” thì may ra mới có thể hoà nhập được vào trong đó.
Nếu viết cho đối tượng người lớn, các nhà văn, nhà thơ hoàn toàn có quyền trình bày quan điểm về cuộc đời, thể nghiệm bút pháp, làm xiếc với
con chữ, thậm chí có thể trút vào đó mọi hằn học, cay cú cho “đã nư”, không sao cả, bởi đối tượng người đọc thừa sức nhận biết đúng sai, đồng tình hoặc phản bác. Nếu viết cho trẻ em thì không thể, vì rằng, ngoài vai trò của người cầm bút thì nhà văn, nhà thơ ấy còn phải là nhà giáo dục nữa. Một nhà giáo dục chọn hình thức thơ, văn để chuyển tải những nội dung hướng thiện, do đó, tôi quan niệm phải “dọn lòng” là thế. Phải dọn lấy mọi hắc ám, góc nhìn xám xịt ra khỏi lòng mình thì mới có thể làm bạn với trẻ thơ.
Vì lẽ đó, viết cho thiếu nhi luôn là một “thử thách” với người cầm bút. Đọc tập thơ Từ vườn hoa nhà em của nhà thơ Trần Hà Yên, vui thay, tôi đã thấy chị hết sức có ý thức khi thủ thỉ, lúc tâm tình, khi trò chuyện, lúc hoá thân vào nhân vật con trẻ. Nhờ vậy, cái nhìn của chị trong trẻo, đôi lúc dí
dỏm và chị đã khéo léo lồng vào đó những bài học cần thiết. Tôi thích hình ảnh Anh xe múc - một công nhân làm việc xúc đất cát giữa trưa nắng gắt, không chỉ dừng lại ở miêu tả, chị đã đưa đến một bất ngờ:
Giữa chang chang nắng cháy
Mũ không đội trên đầu
Tí nghe lời mẹ bảo:
Nhường anh chiếc mũ nâu
Rõ ràng là một tinh thần “mình vì mọi người”, chỉ một động tác nhỏ lại đáng yêu biết bao. Tôi thích nét bất ngờ trong câu chuyện Chiếc bình bị vỡ, là anh em Tý cùng chơi đuổi bắt, bất ngờ đụng phải chiếc bình pha lê khiến nó vỡ toang. Khi người cha hỏi lý do tại sao như vậy, nhà thơ kết rất… trẻ con. Chỉ có trẻ con mới trả lời thế này:
Chiều về thấy vậy bố hỏi:
-Sao bình bị vỡ thế này?
Anh Hai ngập ngừng nhìn bố:
Tí thưa: -Tại nó bị say!
Hình dung ra hoạt cảnh này, ta thấy gì? Tôi đoán chắc là ông bố ắt cười phì vì không chỉ ông mà ngay cả chúng ta cũng không thể lường đến
một câu trả lời… éo le đến thế. Thú thật khi đọc bài thơ này của Trần Hà Yên, từ câu trả lời ngộ nghĩnh này, tôi lại liên tưởng đến bài thơ Thương ông của Tú Mỡ. Rằng, do ông bị đau chân nên bé Việt dìu ông bước lên bậc thềm, đã thế, còn dặn ông: “Đôi mắt sáng trong/ Việt ta thủ thỉ:/ “Ông đau lắm nhỉ?/ Khi nào ông đau/ Ông nhớ lấy câu/ Bố cháu vẫn dạy/ Nhắc đi nhắc lại:/ - Không đau! Không đau!/ Dù đau đến đâu/ Khỏi ngay lập tức”. Đó chính là thơ viết cho trẻ con. Chỉ trẻ con mới có được cách nói hết sức đáng yêu như từ chiếc bình vỡ do bị say đến câu “thần chú” không đau, không đau. Không chỉ tình huống tức cười này, tôi tin mọi người cũng tủm tỉm cười lúc Sún yêu thể thao. Dù biết tập thể thao tốt cho sức khoẻ nhưng rồi như mọi đứa bé khác, Sún cũng mè nheo, làm nũng… cực kỳ chí lý:
Mồ hôi tuôn nhễ nhại
Lại khát nước nữa rồi
Bố ơi! con nghỉ nhé
Tập rồi… còn phải chơi
Lý lẽ của con trẻ đấy, không yêu sao được? Đọc kỹ tập thơ này của nhà thơ Trần Hà Yên, tôi nhận thấy một trong những điểm đáng yêu khác nữa thể hiện khi chị bày tỏ cảm xúc về sự san sẻ, biết quan tâm cho nhau.
Chẳng hạn, ngày nọ Tũn làm thợ xây, bé sẽ xây những gì nhỉ?
À, ra rồi… Tũn nhớ
Chú Vàng có nhà đâu?
Cứ bậc thềm, cửa ngõ
Chú nằm cùng đêm thâu
Vậy, xây cái nhà cho chú chó là hợp lý quá, phải không nào? Tũn bắt tay vào làm ngay, âu cũng là một cách bày tỏ lòng thương yêu với vật nuôi trong nhà. Cuối cùng, qua cách viết của tác giả, bé Tũn nhận ra một điều thật hiển nhiên:
Nhưng mà Tũn quên mất
Vàng có cần nhà đâu
Vào ra canh giữ cửa
Cho mọi người ngủ sâu
Do lúc xây nhà, bé Tũn mới nhận ra một điều bình thường mà lâu nay không nghĩ đến về chú Vàng. Qua cách trình bày này, tác giả nhẹ nhàng
đưa vào trong thơ một tình huống rất đỗi yêu thương giữa người và vật.
Những vần thơ trong trẻo này còn lần lượt mở ra trước mắt chúng ta nhiều tình huống, nhiều câu chuyện. Có thể đó là lúc cô bé giúp bà cụ không qua đường khi đèn xanh vì xe cộ nguy hiểm, chờ đèn đỏ mới dắt cụ đi trên vạch dành cho người đi bộ. Bài học về giao thông thể hiện rất rõ ràng ở đây. Hay là lúc Nghé con học nhạc; hay là lời tâm tình cùng chị Hằng đêm Trung thu v.v…
Nhà thơ Trần Hà Yên đã nỗ lực từ câu chữ đến vần điệu nhằm gần gũi với thế giới của trẻ thơ. Điều này thật hết sức đáng quý ở chị, một tâm hồn giàu tình yêu thương, luôn dành mọi cảm xúc cho con trẻ.
Đối với tôi, trong thị trường sách hiện nay, một khi được đọc các tác phẩm dành cho lứa tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới”, lòng tôi bao giờ cũng
dạt dào sự cảm thông và đồng điệu. Vì rằng, hơn bao giờ hết, các bậc phụ huynh chúng ta đang cần và rất cần những tác phẩm văn học dành cho con em mình.
Mà kỳ lạ, khi các em được hưởng thụ những áng văn thơ viết về mình/ viết cho mình thì đó cũng là lúc người lớn chúng ta phải “dọn mình” thì
mới có thể. Sực nhớ, trong tập sách Lượng thông tin và những kỹ sự tâm hồn ấy (NXB Tác phẩm mới - 1978), nhà thơ Xuân Diệu hoàn toàn có lý khi cho rằng: “Cái thế giới ấy là bắt đầu cho cả thế giới; tuy nhiên mỗi tâm hồn của con người phải nhâp môn, phải giác ngộ về thế giới trẻ con kỳ
diệu ấy, nếu không, nếu không thì vẫn cứ đứng ở ngoài”.
Từ ý kiến xác đáng này, soi rọi lại tập thơ Từ vườn hoa nhà em của nhà thơ Trần Hà Yên, tôi cảm nhận chị không “đứng ở ngoài” mà đã hoà nhập vào trong thế giới đó.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.