Thông báo, tin tức mới nhất

  • Một số cập nhật mới nhất 17/11/2025 21:33

    Trong lần nâng cấp mới nhất, Thi Viện có một số cập nhật như sau:
    - Loại bỏ tính năng bình luận nhanh bằng tài khoản Facebook: Theo thông báo từ Meta cách đây ít hôm, tính năng này sẽ dừng hoạt động từ tháng 2-2026. Tuy nhiên, Thi Viện đã dừng sử dụng tính năng này từ hôm nay, và thay bằng tính năng cho phép người dùng bình luận nhanh tự do ngay cả khi không đăng ký tài khoản. Mặc dù vậy, người dùng vẫn nên đăng nhập để có thể quản lý các bình luận của mình về sau. Các bình luận cũ cũng đã được tích hợp đầy đủ vào Thi Viện.
    - Không cho phép sử dụng hình ảnh từ website khác làm hình đại diện, mà chỉ được sử dụng hình từ thư viện được cung cấp sẵn, hoặc từ kho các hình ảnh do người dùng gửi lên Thi Viện.
  • Thêm thư viện giải nghĩa và nâng cấp chức năng tìm kiếm 03/05/2025 13:22

    Thi Viện mới bổ sung mục giải nghĩa nhằm làm thư viện sử dụng chung trong việc giải nghĩa các từ, điển cố, điển tích, địa danh,... trong các tác phẩm. Mục giải nghĩa này sẽ giúp người đăng bài không cần phải nhập nhiều lần lời giải thích cho cùng một điển cố, điển tích hay địa danh, mà lấy từ thư viện nếu đã có có sẵn. Sau khi một mục giải nghĩa được sử dụng, các bài thơ liên quan sẽ được kết nối và gợi ý khi một bài được xem.

    Chức năng tìm kiếm của Thi Viện cũng đã được nâng cấp, cho phép: tìm kiếm đồng thời trong cả phần nguyên tác, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ và cả các dị bản của các bài thơ, với thời gian tìm kiếm được cải thiện đáng kể. Các yêu cầu tìm kiếm cũng được chuẩn hoá dấu câu, vị trí dấu thanh, chữ cái I/Y, và các thẻ trình bày, cho phép nhập “KHÓE MI” vẫn có thể tìm được cả “Khoé My”.
  • Bỏ quy định thêm số thứ tự với các tác giả trùng tên, bài thơ trùng tiêu đề 20/12/2024 01:04

  • Cho phép hiển thị nhiều phiên bản bài thơ 01/10/2024 08:37

  • Bỏ chức năng đăng nhập bằng tài khoản Facebook 02/06/2024 08:27

Thơ mới: Làm trai cờ bạc thì chừa (Khuyết danh Việt Nam)

Làm trai cờ bạc thì chừa,
Rượu làng thì uống, rượu mua thì đừng.

Lời dạy bảo rõ ràng,
Ai cũng đều thấy cả.

Đi khắp thiên hạ,
Cũng có kẻ không nghe lời.
Rủ đánh bạc bài mười,
Không biết điều khôn dại.

Suy ra điều lợi hại,
Kể cho hết mà nghe.
Ai có biết thì dè,
Ai không nghe cũng mặc.

Nằm, ba người rủ chắc,
Tối họp lại một đoàn.
Biết nhà cụ có tiền,
Đến khuôn bàn gá thổ.

Cho thuận ông thuận mẹ,
Cho thuận vợ thuận chồng.
Việc có gấy có nhông,
Mới thuận buồm xuôi gió.

“Có quan tiền để đó,
Hắn có đẻ mô mồ.
Mang sự đánh thì thua,
Thu về lo ta trả.
Khất trong năm ba bữa,
Chưa đến nỗi hắn đòi.

Khuôn được thổ xong rồi,
Mời anh em ngồi lại.

Coi mặt mũi cũng sọi,
Coi tay đánh cũng đều.
Có thầy đĩ, thầy nhiêu,
Có thầy tri, thầy sở.

Mở bài ra chia cửa,
Cứ mỗi cửa ba con.
Trữa thì đụng khuôn,
Hai bên rày đụng nước.

Chưa biết ai thua được,
Phải bắt hồ trước cho xong.
Bắt mỗi cọc mỗi đồng,
Bắt hồ rồi mà đánh.

Kẻ ở ngoài đánh gạnh,
Người đụng đội, đụng ba.
Ai nấy thả hồ ra,
Ai trốn hồ có tội.

Khen cho ông nhà thổ,
Khéo góp nhớp bòn chài.
Khi nải chuối mâm khoai,
Khi ngô với kẹo.
Khi đĩa trù chén rượu,
Khi mâm cháo thịt gà.
Múc một đọi chói hoa,
Tính ba tiền nọng nọng.

Đêm thức khuya đói bụng,
Ai chộ chẳng muốn ăn.
Bòn đầu bị túi khăn,
Để làm đồng tiền tổn.

Bây giờ hết vốn,
Ngồi rũ trốc rủ tai.
Ngồi nghểnh cổ ngáp dài,
Ngồi ghé đèn bắt rận.

Cứ thua ngơ thua ngẩn,
Thua thiệt thậm là thua.
Kêu ông chủ đổ hồ,
Để ta làm ván khác.


Ai thiếu khuôn thì gác,
Ai thiếu mước thì kênh.
Bòn điều tịch đầu bềnh,
Đánh năm nhà thua bảy.


Đến cái hồi gà gáy,
Cờ bạc đã rạng đông.
Ta phân xử cho xong,
Anh em về kẻo sáng.


Gạt ngọn đèn cho rạng,
Ai thua được trong bàn.
Kẻ thua đôi ba quan,
Người thua năm bảy chục.

Nhà các anh có phúc,
Đem của đến cho người.
Lúc đầu đánh mà chơi,
Sau rồi mắc lấy nợ.

Nợ chi mà nợ,
Nợ mượn lén trả thầm.
Anh cởi áo ra cầm,
Trở về nhà trộm lúa,
Trả một lần chưa đủ.
Anh khất cối khất chày,
Khất đôi tháng, đôi ngày,
Đến bữa rày hắn không nể.

Hắn đào hết cha, hết mẹ,
Hắn chửi hết tổ, hết tiên.
Các anh làm chi nên,
Để ông cha chịu tội,
Để mẹ thầy chịu tội.

Về mẹ cha có chửi,
Thì đỏ mặt tía tai.
Nay nói đi Hòn Gay,
Mai nói đi lính mộ.

Mộ chi mà mộ,
Không biết xấu biết hổ.
Về nạt gió đàn bà,
Không chăm chỉ cửa nhà,
Không biết điều no đói.

Ngày anh chăm công buổi,
Tối ngủ với vợ con.
Muốn ăn miếng chi ngon,
Sai đàn bà đi chợ.

Tiền không mắc ai một trữ,
Khỏi mất ngủ mất ăn.
Trước nửa khoẻ cái thân,
Sau không ai trả mánh.

Đánh chi mà đánh,
Ôm lấy rét mà run.
Anh chỉ nói anh khun,
Lòi thây anh ra đó!

Tiền ăn đà chẳng có,
Lại có tiền bỏ đi.
Anh không nghĩ không suy,
Không biết điều khun dại.

Lúc trời làm tai hại,
Đồng hạn hán khô khan.
Chục lúa mười hai quan,
Biết lấy chi cứu đói.

Kẻ lên ngàn xanh kiếm củi,
Kiếm bát gạo đồng tiền.
Về nuôi vợ, nuôi con,
Chạy thịt nát xương mòn,
Con nhà nghèo thêm khổ.

Nhà các anh thì có,
Ngày ba bữa ăn no.
Ngày thì ngủ như bò,
Đêm thì mò như vạc.

Cờ cờ bạc bạc,
Rượu rượu chè chè.
Rủ bạn rủ bè,
Lo bề đánh chác.

Thua cho xơ xác,
Bán hết cửa, hết nhà.
Bán vại mắm, vại cà,
Có con chi cũng bán,
Có vật gì cũng bán.

Lúc đầu có thập, có vạn,
Sau có nhất nhị văn.

Muốn trở về làm ăn,
Mắc thường thường bát văn,
Mắc thang thang ông lão.

Bây giờ hết láo,
Thất sách đi rồi.
Nghĩ lại mà coi,
Mười ăn chín nhịn.

Đặt một cái chuyện,
Dạy nhủ đàn con.
Ai chừa bài mười thì khôn,
Ai không chừa thì dại.

Lời cha ông đã nói,
Cờ bạc là bác thằng bần.
Thế mà trong dân,
Lắm kẻ cứ đâm vào cờ bạc,
Nhiều người cứ đâm vào cờ bạc.


Đánh bạc cũng là một trong những thú tiêu khiển trong xã hội cũ. Đành rằng đó là thứ mua vui nhưng thực chất là một phương tiện sát phạt để bóc lột lẫn nhau. Bài này với lối hành văn mộc mạc và tự nhiên, đã miêu tả một cách rất tinh tế những nét sinh hoạt trước đây trong xã hội qua cảnh họp nhau đánh bạc, cảnh gá thổ đổ hồ, cảnh đòi nợ, cảnh vợ chồng đay nghiến nhau và cảnh tha phương cầu thực. Bài vè có lẽ ra đời từ xa xưa, ít nhất vào giữa thế kỷ XIX và rất phổ biến ở Nghệ Tĩnh.

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]

 

Thơ thành viên mới: Nỗi thứ hai (Trương Đăng Kha)

Có một thời... ngày ấy... học sinh
Đâu hiểu sao nhìn em say đắm
Cứ quay đi mà mắt thì mãi ngắm
Mái tóc em dài, siết chặt tay run

Mười năm rồi trí nhớ cũng mông lung
Không biết người ấy có chồng chưa nữa ?
Cứ trái tim bập bùng như có lửa
Khi thấy những đứa trò bẽn lẽn nắm tay nhau

Cái ngày ấy mình cứ làm sao
Không nắm tay, chỉ dám sờ lên mái tóc
Mình sợ lắm đôi mắt giận mà không khóc
Mình cứ run không biết xin lỗi thế nào

Nhớ mỗi lần tan học ai cũng vội về mau
Chỉ hai đứa là tình cờ muộn nhất
Không dám bước nhanh vì sợ mai chủ nhật
Phải nhớ nàng đến nỗi thứ hai

Và có lần hai đứa lỡ chạm tay
Cứ đứng im nghe trái tim đập rõ
Giờ tiếc nhớ một thời tuổi nhỏ
Vẫn chưa một lần dám nắm tay nhau

2016

Trích diễm

Tôi đã chôn sao anh cứ hiện về?

Nấm mồ ấy không một lần hương khói,

Vùi sâu anh trong quãng đời nông nổi,

Tôi bồi hồi, tôi bối rối... tôi yêu!

–– Ảo ảnh (Đinh Thu Hiền)

Kỷ niệm ngày sinh, mất

Tác giả mới

Thơ Việt mới

Thơ dịch mới

Thơ thành viên mới

Diễn đàn

 

Tiêu điểm

Mạnh Lê Lê Văn Mạnh

Mạnh Lê
Nhà thơ Mạnh Lê (4/4/1953 - 15/4/2008) tên thật là Lê Văn Mạnh, nguyên là Phó Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Thanh Hoá kiêm Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà báo tỉnh Thanh Hoá, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam.

Các…

Quy Hữu Quang 歸有光

Quy Hữu Quang 歸有光 (1506-1571) tự Hy Phủ 熙甫, Khai Phủ 開甫, hiệu Chấn Xuyên 震川, Hạng Tích sinh 項脊生, người Côn Sơn (nay thuộc Giang Tô), đỗ cử nhân năm Gia Tĩnh thứ 19, nhiều lần thi hội không đậu, dời chỗ ở dạy học ở Gia Định, người gọi là Chấn Xuyên tiên sinh. Năm Gia Tĩnh thứ 44 mới đỗ tiến sĩ, quan đến Thái bộc tự thừa Nam Kinh, là nhà sáng tác cho phái Đường Tống, về tản văn có ảnh hưởng đến đương thời, thơ ông không gọt giũa.
Thiền lão 禪老 là mỹ hiệu của một nhà sư thuộc thế hệ thứ 6, dòng thiền Quan Bích. Họ tên, quê quán và năm sinh năm mất đều chưa rõ. Chỉ biết ban đầu theo học Thiền sư Đa Bảo ở chùa Kiến Sơ, Khi đã lĩnh hội được tâm yếu đạo thiền bèn về tu ở núi Từ Sơn và trở thành vị thiền lão nổi tiếng một vùng.

Khoảng…
Thơ tiêu biểu: Nhật nguyệt

Giorgos Markopoulos Γιώργος Μαρκόπουλος

Giorgos Markopoulos
Giorgos Markopoulos (tiếng Hy Lạp: Γιώργος Μαρκόπουλος), sinh năm 1951, là nhà thơ Hy Lạp, sinh ở Messinia. Ông học kinh tế và thống kê tại Đại học Kinh tế Athen (AUEB) và là giám đốc Bộ Văn hoá. Giorgos Markopoulos là nhà thơ thuộc thế hệ đầu được mệnh danh là “thế hệ thơ mộng năm 70”. Năm 1996, ông…

Hồng Trung Phan Canh

Hồng Trung (10/2/1924 - ?) tên thật là Phan Canh, sinh tại làng Nhơn Thọ, quận An Nhơn, tỉnh Bình Định, là một cây bút thích đọc thơ Pháp nhưng lại sở trường về thơ Đường. Ông xuất thân và chịu ảnh hưởng từ gia đình Nho giáo, làm thơ từ năm 14 tuổi. Sau ông theo Tây học, có bằng thành chung và từng làm…
Vũ Đình Văn (1951 - 27/12/1972) là nhà thơ, liệt sĩ, quê ở xã Đại thắng, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Cha ông đã chuyển lên Hà Nội để sinh sống bằng nghề thuốc bắc tại phố Lãn Ông. Thuở nhỏ Vũ Đình Văn học tại Hà Nội và nhập ngũ tháng 12-1971 khi đang học năm thứ ba khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội.…
Thôi Nguyên Phạm 崔元範, khoảng năm Đại Trung làm Giám sát ngự sử thanh tra Chiết Đông.

Hoàng Yến Lê Hoàng Yến, Thạch Tiễn, Hoàng Lan, Hoàng Đức Anh

Hoàng Yến
Hoàng Yến (15/10/1922 - 23/2/2012) tên thật là Lê Hoàng Yến, các bút danh khác Thạch Tiễn, Hoàng Lan, Hoàng Đức Anh, quê An Thái, Hoà Vang, Quảng Nam. Ông là cháu ruột Xứ uỷ Trung Kỳ, cựu tù Đắc-plây Huỳnh Ngọc Huệ, từng học Trường ESEPIC Phan Thiết, giỏi võ karate.

Ông từng hoạt động cách mạng trong…
Bjørnstjerne Martinus Bjørnson (8/12/1832 - 26/4/1910) là nhà văn Na Uy, nhà văn đầu tiên của Bắc Âu được giải Nobel văn học (năm 1903) nhờ những đóng góp trong các lĩnh vực thơ, văn xuôi và kịch.
Nguyễn Thanh Loan sinh ở thị trấn Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chị được giải thưởng khuyến khích trong cuộc thi Sáng tác thơ văn xuyên thế kỷ do báo Hoa học trò tổ chức năm 1999-2000.

Chị học lớp Toán tin, khoa Quản lý K2, Đại học Khoa học Tự nhiên. Trong thơ Nguyễn Thanh Loan, thỉnh thoảng bắt…