Babilone a vãté ſes murailles de brique,
Rhode a fait renommer ſon coloſſe orgueilleux
Et l’Egipte a fait cas des ſommets ſourcilleux,
D’vne maſſe de pierre admirable en fabrique.
Epheſe aimoit ſon temple ainſi qu’vne relique,
Semiramis auoit des iardins merueilleux,
Le tombeau de Mauſole eſtoit miraculeux,
Et ne luy cedoit pas Iupiter olimpique.
Les anciens ont dit merueilles en leurs vers,
Des miracles premiers qu’on vit en l’vniuers:
Mais moy i’ay pour ſujet la merueille feconde.
Ô ma Philis, alors que ie décry vos yeux,
Celebre qui voudra ſept miracles du monde,
Ie reſerue à ma plume vn miracle des cieux.
Babylon tự hào xây thành gạch,
Đảo Rhodes lừng danh tượng lớn kiêu kỳ,
Ai Cập trọng uy nghi Kim tự tháp,
Khối đá kỳ công, tuyệt tác tinh vi.
Ephesos thờ ngôi đền thánh tích,
Semiramis vườn ảo mộng xanh rì,
Lăng Mausolus phép màu hiển hiện,
Chẳng kém thần Zeus ngự đỉnh uy nghi.
Người xưa chép những kỳ quan thế giới,
Dệt vần thơ ca tụng thuở ban sơ,
Nhưng riêng tôi, một kỳ quan mới đợi.
Philis ơi, khi tả mắt nàng thơ,
Mặc ai đó khen kỳ quan hạ giới,
Bút tôi dành cho tiên cảnh cõi mơ.
Em bước đi trên cát vàng rực rỡ
Nắng hanh vàng ấm áp bước em đi
Thuyền đong đưa bên biển xanh êm ả
Áng mây hồng bên Mặt Trời xa xa.
Giấc mơ anh bên bến đò chiều muộn
Đò sang bến chẳng thấy bóng anh về
Cho cơn sóng cuộn trào nơi biển vắng
Đại dương xanh ôm lấy anh vào lòng.
Ánh hoàng hôn sao bình yên đến thế
Mà lòng em như bến đợi con đò
Gửi tình em vào sóng xanh biển cả
Chiếc thuyền giấy theo làn sóng trôi xa.
Em một lòng gửi tình yêu bên biển
Đất nước, anh, và biển cả mênh mông
Em mong sao làn nước xanh biển cả
Sẽ ấp ôm tâm hồn em thay anh.