Thông báo, tin tức mới nhất

  • Một số cập nhật mới nhất 17/11/2025 21:33

    Trong lần nâng cấp mới nhất, Thi Viện có một số cập nhật như sau:
    - Loại bỏ tính năng bình luận nhanh bằng tài khoản Facebook: Theo thông báo từ Meta cách đây ít hôm, tính năng này sẽ dừng hoạt động từ tháng 2-2026. Tuy nhiên, Thi Viện đã dừng sử dụng tính năng này từ hôm nay, và thay bằng tính năng cho phép người dùng bình luận nhanh tự do ngay cả khi không đăng ký tài khoản. Mặc dù vậy, người dùng vẫn nên đăng nhập để có thể quản lý các bình luận của mình về sau. Các bình luận cũ cũng đã được tích hợp đầy đủ vào Thi Viện.
    - Không cho phép sử dụng hình ảnh từ website khác làm hình đại diện, mà chỉ được sử dụng hình từ thư viện được cung cấp sẵn, hoặc từ kho các hình ảnh do người dùng gửi lên Thi Viện.
  • Thêm thư viện giải nghĩa và nâng cấp chức năng tìm kiếm 03/05/2025 13:22

    Thi Viện mới bổ sung mục giải nghĩa nhằm làm thư viện sử dụng chung trong việc giải nghĩa các từ, điển cố, điển tích, địa danh,... trong các tác phẩm. Mục giải nghĩa này sẽ giúp người đăng bài không cần phải nhập nhiều lần lời giải thích cho cùng một điển cố, điển tích hay địa danh, mà lấy từ thư viện nếu đã có có sẵn. Sau khi một mục giải nghĩa được sử dụng, các bài thơ liên quan sẽ được kết nối và gợi ý khi một bài được xem.

    Chức năng tìm kiếm của Thi Viện cũng đã được nâng cấp, cho phép: tìm kiếm đồng thời trong cả phần nguyên tác, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ và cả các dị bản của các bài thơ, với thời gian tìm kiếm được cải thiện đáng kể. Các yêu cầu tìm kiếm cũng được chuẩn hoá dấu câu, vị trí dấu thanh, chữ cái I/Y, và các thẻ trình bày, cho phép nhập “KHÓE MI” vẫn có thể tìm được cả “Khoé My”.
  • Bỏ quy định thêm số thứ tự với các tác giả trùng tên, bài thơ trùng tiêu đề 20/12/2024 01:04

  • Cho phép hiển thị nhiều phiên bản bài thơ 01/10/2024 08:37

  • Bỏ chức năng đăng nhập bằng tài khoản Facebook 02/06/2024 08:27

Thơ mới: Tục Thiên Thai phú (Ngô Thì Chí)

續天台賦

是歳十月既望,學遜氏自寶篆之養齋,歸于河口書院,雞鳴策馬迂其途而之天台山。

東方欲明,天色尚黎。
欸乃一聲,群山轉暉。
陟彼崔嵬,放眼紘夤。
煙光萬態,徙步不齊。
乃委轡止策,縱馬之所之。
忽焉山低樹翠,灣迴水媚。
散礫礙履,平崗沙起。
虎豹拱視,虯龍作勢。
金剛傴僂,獅子伏地。
敗壁成堆,撲碑失隸。
錯認禪根,恍然天市。

野叟為言:
此先朝行宮之故址也。
余從而問其事,
則歷歷如雲遊之所記。
盛晩循環,故事成瀾。
偶觸目而傷心,覺臨風而厚顔。
頃有一人,從山邊來,
認是故人,相見甚歡。
相與把握于松風之下,
提攜於竹石之間。
敘平生之契闊,
評宇宙之大觀。
故人興盡,余猶盤桓。
怪而問余曰:
天地名勝多矣,
而子何戀乎斯山。

曰:
造設無窮,際蟠非窄。
人生其間,貴乎順適。
余蓋惡城市之諠譁,
喜山居之雅寂。
將以爽乎余懷,
豈余好于窮僻。
山不在高,水不在深。
山水之樂,寓於目而得於心。

何必:
窮虎溪之源,探雁蕩之窟,
攀梯鶻之巢,瞰潛蛟之室。
然後足以暢吾懷而消俗慮也哉?
乃登望江之樓,沽市酒而飲之。
酒及微醺,故人矍然起曰:
文章,太極之粹也,
江山,法像之秘也。
大塊既假我以文章,
江山復召我以煙景。
何以得斯於天地哉?
或者各省吾身,栽吾文。
去華就寔,刊訛為純。
削其枝葉,以全吾真。
庶不妒乎造化,亦無負乎洪鈞。
因把盞更酌,拍案而吟云:
江山閲人代,千載若旦暮。
偶迂塵外軫,溥極寰中趣。
登觀豁壯眸,初陽蹇宿霧。
隱約覽山雲,稀微天德樹,
時來千里風,習習吹芳杜。
沖想寞寥天,吾語孰與晤。
古人難與今,今日倏成古。
賢聖去不歸,智愚同此路。
才多道所憎,學廣人爭妒。
聰明鑿混沌,英發喪衷素。
但全此仁智,庶庶乎樂壽。
吟成酒涸,煙凝山暮。

余顧書童曰:
小子識之,
作別而去。

 

Tục Thiên Thai phú

Thị tuế thập nguyệt ký vọng, Học Tốn thị tự Bảo Triện chi dưỡng trai quy vu Hà Khẩu thư viện, kê minh sách mã vu kỳ đồ nhi chi Thiên Thai sơn.

Đông phương dục minh, thiên sắc thượng lê.
Ải nãi nhất thanh, quần sơn chuyển huy.
Trắc bỉ thôi ngôi, phóng nhãn hoành di.
Yên quang vạn thái, tỉ bộ bất tề.
Nãi uỷ bí chỉ sách, túng mã chi sở chi.
Hốt yên sơn đê thụ thuý, loan hồi thuỷ mị.
Tán lịch ngại lý, bình cương sa khỉ.
Hổ báo củng thị, cầu long tác thế.
Kim cương ủ lũ, sư tử phục địa.
Bại bích thành đôi, phác bi thất lệ.
Thác nhận thiền căn, hoảng nhiên thiên thị.

Dã tẩu vị ngôn:
- Thử tiên triều hành cung chi cố chỉ dã.
Dư tòng nhi vấn kỳ sự,
Tắc lịch lịch như Vân Du chi sở ký.
Thịnh vãn tuần hoàn, cố sự thành lan.
Ngẫu xúc mục nhi thương tâm, giác lâm phong nhi hậu nhan.
Khoảnh hữu nhất nhân, tòng sơn biên lai,
Nhận thị cố nhân, tương kiến thậm hoan.
Tương dữ bả ác vu tùng phong chi hạ,
Đề huề ư trúc thạch chi gian.
Tự bình sinh chi khế khoát,
Bình vũ trụ chi đại quan.
Cố nhân hứng tận, dư do bàn hoàn.
Quái nhi vấn dư viết:
- Thiên địa danh thắng đa hỹ,
Nhi tử hà luyến hồ tư san?

Viết:
- Tạo thiết vô cùng, tế bàn phi trách.
Nhân sinh kỳ gian, quý hồ thuận thích.
Dư cái ố thành thị chi huyên hoa,
Hỷ sơn cư chi nhã tịch.
Tương dĩ sảng hồ dư hoài,
Khởi dư hiếu vu cùng tịch.
Sơn bất tại cao, thuỷ bất tại thâm.
Sơn thuỷ chi lạc, ngụ ư mục nhi đắc ư tâm.

Hà tất:
Cùng Hổ Khê chi nguyên, thám Nhạn Đãng chi quật.
Phan thê cốt chi sào, khám tiềm giao chi thất.
Nhiên hậu túc dĩ sướng ngô hoài nhi tiêu tục lự dã tai?
Nãi đăng vọng giang chi lâu, cô thị tửu nhi ẩm chi.
Tửu cập vi huân, cố nhân quắc nhiên khởi viết:
- Văn chương, thái cực chi tuý dã,
Giang sơn, pháp tương chi bí dã.
Đại khối ký giả ngã dĩ văn chương,
Giang sơn phục triệu ngã dĩ yên cảnh.
Hà dĩ đắc tư ư thiên địa tai?
Hoặc giả các tỉnh ngô thân, tài ngô văn.
Khứ hoa tựu thực, san ngoa vi thuần.
Tước kỳ chi diệp, dĩ toàn ngô chân.
Thứ bất đố hồ tạo hoá, diệc vô phụ hồ hồng quân.
Nhân bả trản canh chước, phách án nhi ngâm vân:
Giang sơn duyệt nhân đại, thiên tải nhược đán mộ.
Ngẫu vu trần ngoại chẩn, phổ cực hoàn trung thú.
Đăng quan khoát tráng mâu, sơ dương kiển túc vụ.
Ẩn ước Lãm Sơn vân, hy vi Thiên Đức thụ.
Thời lai thiên lý phong, tập tập xuy phương đỗ.
Xung tưởng mịch liêu thiên, ngô ngữ thục dữ ngộ.
Cổ nhân nan dữ kim, kim nhật thúc thành cổ.
Hiền thánh khứ bất quy, trí ngu đồng thử lộ.
Tài đa đạo sở tăng, học quảng nhân tranh đố.
Thông minh tạc hỗn độn, anh phát táng trung tố.
Đãn toàn thử nhân trí, thứ thứ hồ lạc thọ.
Ngâm thành tửu hạc, yên ngưng sơn mộ.

Dư cố thư đồng viết:
- Tiểu tử chí chi!
Tác biệt nhi khứ.

 

Nối tiếp bài phú Thiên Thai (Người dịch: Thạch Can)

Sau ngày Rằm tháng Mười năm nay, Học Tốn từ nhà nghỉ Bảo Triện về thư viện Hà Khẩu, gà gáy cưỡi ngựa lên đường mà đi lên núi Thiên Thai.

Đằng đông tang tảng, trời còn chạng vạng.
Đâu đó xôn xao, núi non rạng sáng.
Lên đèo leo dốc, buông mắt tứ bề.
Khói mây muôn vẻ, bước đi gập ghềnh.
Ta lỏng buông tay khấu, mặc cho ngựa cứ đi.
Bỗng núi thấp cây xanh rì, quanh co bên một bờ đê.
Bãi phẳng sườn đồi, gồ ghề sỏi đá.
Hổ báo nanh nhe, rắn rồng miệng há.
Sư tử phủ phục, hộ pháp nghiêng ngả.
Bia xiêu chữ mòn, vách tường tơi tả.
Tưởng như chợ trời, ngỡ nền chùa cũ.

Ông già quê bảo ta rằng:
- Đây là nền cũ của hành cung triều trước đó.
Ta liền hỏi lại chuyên đầu đuôi,
Thì rành rành như đã ghi cuộc Vân Du thuở nọ.
Thịnh suy vần chuyển, chuyện cũ thành không.
Nghe gió thổi thấy rát mặt, mở mắt nhìn mà đau lòng.
Bỗng có một ông khách, từ bên núi đi lại,
Nhận ra là bạn cũ, gặp nhau mừng khấp khởi.
Liền cùng nhau, khoác tay bên phiến đá khóm trúc,
Sát cánh hứng gió mát gốc tùng.
Hàn huyên kể lể miền xa cách,
Trầm trồ cảnh đẹp của núi sông.
Khách đã hết hứng, mà ta vẫn ngất ngây.
Ông bạn nói:
- Ô hay! Thiên hạ có thiếu chi cảnh đẹp,
Sao anh quyến luyến mãi nơi này?

Ta rằng:
- Tạo hoá khôn cùng, đất trời chẳng nhỏ.
Người sống ở đời, quý hồ thích thú.
Ta ghét chốn thành thị ồn ào,
Mà ưa cảnh núi rừng u nhã.
Muốn sao cho thư thái trong lòng,
Đâu phải ham chốn núi thẳm rừng sâu xa lạ!
Núi không cần cao, nước không cần sâu.
Vui cùng núi với nước, mắt nhìn lòng thích biết bao.

Có cần chi mà phải:
Lên núi Nhạn Đãng mò hang hốc, vượt dòng Hổ Khê tìm ngọn nguồn.
Mò mẫm đi tìm tổ cuốc cuốc, ngấp nghe nhìn ngó vực thuồng luồng.
Rồi mới cho rằng tiêu niềm tục, để thoả thích trong lòng hay sao?
Liền cùng nhau lên lầu vọng giang, mua rượu cùng uống.
Rượu vừa ngà ngà, cổ nhân bỗng cao hứng đứng phắt dậy mà rằng:
- Văn chương là tinh tuý của khí,
Núi sông là kỳ diệu của thể.
Tạo hoá đã cho ta văn chương,
Núi sông lại cho ta cảnh trí.
Ta thu thập được gì trong ấy?
Hoặc là: Tu tỉnh mình ta, trau dồi văn ta.
Lấy chân thực, bỏ xa hoa, giữ thuần nhất, sửa sai ngoa.
Tước bỏ những điều hư tạp, giữ gìn chân tính từ xưa.
Hầu mang báo đáp cùng tạo hoá, tránh điều ghen ghét của trời già.
Nhân đấy lại rót rượu và nâng chén, vỗ tay làm nhịp mà ngâm nga:
Núi sông bao đời người, nghìn năm dường sớm tối.
Chợt ra ngoài trần ai, rộng khắp trong tám cõi.
Lên cao rộng tầm nhìn, sáng ra mù vừa tan.
Cây Thiên Đức mờ tỏ, mây Lãm Sơn dập dờn.
Gió mùa nghìn dặm về, hiu hiu thổi cỏ cây.
Trời mông lung vẳng lặng, ta nói có ai hay.
Người xưa đâu biết nay, người nay chợt thành cổ.
Thánh hiền đi không về, trí ngu cùng lối đó.
Tài nhiều đời ghét ghen, học rộng người kèn cựa.
Thông minh, hại tính xưa, tinh nhanh, mất sẵn có.
Giữ lấy trí với nhân, ngõ hầu vui và thọ.
Ngâm xong rượu cạn, núi chiều sương phủ.

Ta bảo thư đồng:
- Con hãy ghi nhớ!
Từ biệt mà rời chỗ.


[Thông tin 2 nguồn tham khảo đã được ẩn]

 

Thơ thành viên mới: Trời có thương? (TrầnM Đạt)

Đời là bão tố
Là mưa giông
Là cay đắng
Là chạnh lòng

Dù cay đắng
Dù đón giông
Mây vẫn nắng
Đỡ lạnh lòng

Để từng hơi thở
Hoà sương sớm
Đem từng cay đắng
Nuôi gió sông

Lấy ngàn biển cả
Gộp trăm sông
Đem về hơi ấm
Mà não lòng

Để lại cánh én
Chiều gió sông
Vẽ lên ánh bạc
Mà vui lòng

Cất vào trăng sáng
Tấm lòng nhỏ
Để cho ánh sáng
Chiếu vào tôi

Đem tình đổ bạc
Giấu sau sông.

Khóc cho đi
Mày khóc cho đi
Lời khuyên mãi
Lại giết nỗi lòng

Sợ
Sợ
Chắc cái chi
Mài sự sợ hải mà ăn được?

Trách trời trách người
Vì bạc bẽo
Trách lòng yếu đuối
Sợ cô liêu

Não lấy máu viết thơ
Cho thoả tiếng ưu sầu
Tay tựa chiếc lá
Vì chạm là đung đưa.

Trích diễm

Vô dược khả y ưu quốc bệnh,

Hữu quan nan trở mộng gia hồn.

–– Tự thán kỳ 1 (Trần Danh Án)

Kỷ niệm ngày sinh, mất

Tác giả mới

Thơ Việt mới

Thơ dịch mới

Thơ thành viên mới

Diễn đàn

 

Tiêu điểm

Hồ Tá Bang (1875-1943) là một nhà cải cách duy tân thời cận đại, và là một trong sáu thành viên sáng lập trường Dục Thanh và công ty Liên Thành hồi đầu thế kỷ XX. Ông sinh năm Ất Hợi (1875) tại làng Kế Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế). Sau ông dời…
Charles-Augustin Sainte-Beuve (1804-1869) là nhà phê bình hàng đầu Pháp, người đề xướng phương pháp tiểu sử học trong phê bình văn học, đồng thời còn là thi sĩ và tiểu thuyết gia.

Tác phẩm:
- Cuộc đời, thi ca, tư tưởng củ Joseph Delorme (1829)
- Tư duy tháng Tám (1837)
- An ủi
Nguyễn Ngọc Tú Anh sinh ngày 12/10/1982 tại TP Hồ Chí Minh, là hướng dẫn viên du lịch.

Tác phẩm:
- Ngang qua đời nhau (NXB Hội nhà văn, 2020)
- Nhặt cánh hoa xưa (chưa in)

Alexander Kushner Александр Кушнер

Alexander Kushner
Alexander Semenovich Kushner (Александр Семёнович Кушнер) sinh năm 1936, là nhà thơ Nga, tác giả của 50 tập thơ (bao gồm thơ thiếu nhi) và nhiều chuyên luận về thi ca Nga cổ điển và hiện đại. Ông sinh ở Leningrad trong một gia đình Do Thái. Cha của ông là kỹ sư hải quân. Kushner học tại Khoa Triết học…

Mạnh Lê Lê Văn Mạnh

Mạnh Lê
Nhà thơ Mạnh Lê (4/4/1953 - 15/4/2008) tên thật là Lê Văn Mạnh, nguyên là Phó Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Thanh Hoá kiêm Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà báo tỉnh Thanh Hoá, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam.

Các…

Quy Hữu Quang 歸有光

Quy Hữu Quang 歸有光 (1506-1571) tự Hy Phủ 熙甫, Khai Phủ 開甫, hiệu Chấn Xuyên 震川, Hạng Tích sinh 項脊生, người Côn Sơn (nay thuộc Giang Tô), đỗ cử nhân năm Gia Tĩnh thứ 19, nhiều lần thi hội không đậu, dời chỗ ở dạy học ở Gia Định, người gọi là Chấn Xuyên tiên sinh. Năm Gia Tĩnh thứ 44 mới đỗ tiến sĩ, quan đến Thái bộc tự thừa Nam Kinh, là nhà sáng tác cho phái Đường Tống, về tản văn có ảnh hưởng đến đương thời, thơ ông không gọt giũa.
Thiền lão 禪老 là mỹ hiệu của một nhà sư thuộc thế hệ thứ 6, dòng thiền Quan Bích. Họ tên, quê quán và năm sinh năm mất đều chưa rõ. Chỉ biết ban đầu theo học Thiền sư Đa Bảo ở chùa Kiến Sơ, Khi đã lĩnh hội được tâm yếu đạo thiền bèn về tu ở núi Từ Sơn và trở thành vị thiền lão nổi tiếng một vùng.

Khoảng…
Thơ tiêu biểu: Nhật nguyệt

Giorgos Markopoulos Γιώργος Μαρκόπουλος

Giorgos Markopoulos
Giorgos Markopoulos (tiếng Hy Lạp: Γιώργος Μαρκόπουλος) là nhà thơ Hy Lạp, sinh năm 1951 ở Messinia. Ông học kinh tế và thống kê tại Đại học Kinh tế Athen (AUEB) và là giám đốc Bộ Văn hoá. Giorgos Markopoulos là nhà thơ thuộc thế hệ đầu được mệnh danh là “thế hệ thơ mộng năm 70”. Năm 1996, ông được vinh…

Hồng Trung Phan Canh

Hồng Trung (10/2/1924 - ?) tên thật là Phan Canh, sinh tại làng Nhơn Thọ, quận An Nhơn, tỉnh Bình Định, là một cây bút thích đọc thơ Pháp nhưng lại sở trường về thơ Đường. Ông xuất thân và chịu ảnh hưởng từ gia đình Nho giáo, làm thơ từ năm 14 tuổi. Sau ông theo Tây học, có bằng thành chung và từng làm…
Vũ Đình Văn (1951 - 27/12/1972) là nhà thơ, liệt sĩ, quê ở xã Đại thắng, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Cha ông đã chuyển lên Hà Nội để sinh sống bằng nghề thuốc bắc tại phố Lãn Ông. Thuở nhỏ Vũ Đình Văn học tại Hà Nội và nhập ngũ tháng 12-1971 khi đang học năm thứ ba khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội.…