Thơ » Việt Nam » Khuyết danh Việt Nam » Thơ cổ-cận đại khuyết danh
Thơ » Việt Nam » Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn » Liễu Hạnh công chúa
Đăng bởi tôn tiền tử vào 26/03/2025 22:15
Giời đất cao dày,
Con tạo vần xoay.
Ơn vua nhờ thánh,
Sinh được hội này.
Ai đều được nức lòng nức dạ,
Ai chẳng mong mở mặt mở mày.
Hậu giả hậu lai, ở hiền lại gặp lành, mới biết tre già măng mọc,
Ác giả ác báo, ăn mặn thì khát nước, khác nào cây yếu gió lay.
Trách những người thịt bắp vai u, đường lui tới, nhẽ thiệt hơn, ở chẳng trông sau trông trước;
Nào những kẻ mắt to tai lớn, chí tang bồng, duyên hồ thỉ, đi cho biết đó biết đây.
Đương cơn bình địa ba đào, có chí làm quan, có gan làm giàu, sao chẳng khoe khôn cậy khéo?
Gặp lúc cơn đen vận túng, có mồm thì đắp, có nắp thì đạy, cũng nên giả dại làm ngay.
Của Bụt mất một đền mười, xin chớ ăn chay nói dối;
Nam vô một bồ lấy bốn, thà rằng ăn mặn nói ngay!
Ngắn cánh với chẳng đến giời, trí thiển tài ngu, vòng danh lợi tranh đua thêm ngàn nỗi;
Ra tay gạo xay ra cám, văn hay vũ mạnh, buổi kinh luân vùng vẫy cũng ghê thay!
Bò của chú, chú phải lo, con vua vua dấu, con chúa chúa yêu, tình ân ái chẳng nhầm chẳng lỗi;
Đèn nhà ai, nhà ấy rạng, của anh anh mang, của nàng nàng xách, nợ phong lưu nói giả nói vay.
Chị em ơi: lấy chồng cho đáng tấm chồng, cho bõ lúc nghiền phấn sáp, lúc ướp hương hoa, hai chữ cương thường sao cho xứng đáng;
Quân tệ nhỉ: lấy vợ chỉ biết mặt vợ, chẳng nhớ ai bế anh nhi, ai bồng xích tử, ba năm trứng nước bao quản đắng cay!
Có cha có mẹ như đàn có dây, đạo mẹ đức cha, bề rộng giời cho phải quý;
Thuận vợ thuận chồng bể đông cũng cạn, đạo chồng nghĩa vợ, nguồn ân bể ái không tày.
Chị ngã đã có em nâng, máu chảy ruột đau, lá rách lá lành đùm bọc;
Cha sinh không tày mẹ dưỡng, áo dày cơm nặng, công nuôi công dậy đêm ngày.
Một cây chẳng nên rừng, đông có mây, tây có sao, đông đúc anh em mới quý;
Mười voi không bát sáo, kẻ nói thánh, người nói tướng, chớ nghe miệng thế thêm rầy.
Lúc vui vầy chén chú chén anh, rước voi về rầy mồ, ai chết mặc ai, ra sức nay bàn mai cuộc;
Khi cấp nạn chân le chân vịt, huýt chó vào bụi rậm, chú chết mặc chú, tìm đường cao chạy xa bay!
Người Hà Nội, khách Sơn Tây, những tiếng thị phi, cũng lắm kẻ khôn người dại;
Gái giang hồ, giai tứ chiếng, mặc ai ngang dọc, tha hồ kẻ bắc người tây.
Trẻ chẳng tha, già chẳng thương, ở chẳng phòng xa, vuốt mặt không nể mũi;
Cha cũng kính, mẹ cũng vái, đi đâu mà thiệt, sẩy vai xuống cánh tay.
Mưa bao giờ mát bấy giờ, kìa những lúc rét cắt ruột, lúc đói nhăn răng, vận đến nhớ đâu khi rách rưới;
Gió chiều nào che chiều ấy, hãy cho nó qua thời đói, nó khỏi thời nàn, thế nào cũng được bữa no say.
Báng đầu thằng trọc, không nể đầu ông sư, cứng cổ cứng đầu, ai xá những phường ngu dại;
Vắng mặt thằng Ngô, lúc có mặt ông sứ, sấp mày sấp mặt, vẫn nghe nhời nói xưa nay.
Giặc bên Ngô, cô bên chồng, liệu gió phất cờ, đường cư xử sao cho trọn vẹn;
Cháu bà nội, tội bà ngoại, vị cây dây quấn, nhẽ phải chăng nào dám đổi thay.
Giàu đâu ba họ, khó đâu ba đời; đói cho sạch, rách cho thơm cứ giữ công bằng cho phải đạo;
Sống người một nết, chết người một tật; mẹ sinh con, giới sinh tính, há rằng số phận có ưa may?
Thiếu gì kẻ dở người hay, ai là người dạy bảo, ai đem đạo mở mang, có nhẽ cha chung ai khóc?
Nhắn nhủ giai lành gái tốt, phải nên để vào lòng, phải nên chôn vào dạ, chớ hề mẹ hát khen hay.