送舍弟頻赴齊州其三

諸姑今海畔,
兩弟亦山東。
去傍干戈覓,
來看道路通。
短衣防戰地,
匹馬逐秋風。
莫作俱流落,
長瞻碣石鴻。

 

Tống xá đệ Tần phó Tề châu kỳ 3

Chư cô kim hải bạn,
Lưỡng đệ diệc Sơn Đông.
Khứ bạng can qua mịch,
Lai khan đạo lộ thông.
Đoản y phòng chiến địa,
Thất mã trục thu phong.
Mạc tác câu lưu lạc,
Trường chiêm Kiệt Thạch hồng.

 

Dịch nghĩa

Các cô ruột nay ở bên bờ bể,
Hai em ruột cũng ở phía đông núi.
Lúc ra đi thì gặp cảnh binh đao,
Khi về thì thấy đường xá thông.
Binh sĩ áo ngắn lo giữ chiến trường,
Ngựa chiến phi trong gió thu.
Chớ cao rao lên rằng tất cả đều tan rã,
Hãy nhìn kỹ bóng chim hồng nơi núi Kiệt Thạch.


(Năm 764)

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Các cô, nay cạnh biển,
Hai em, núi phía đông.
Trước đi, chạm gươm giáo,
Nay thấy đường đất thông.
Chiến trường binh sĩ gác,
Gió thu vó ngựa lồng.
Chớ nản đời lưu lạc,
Kiệt Thạch, ngắm chim hồng.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Các bà cô nay ngoài miền bể
Hai em trai cũng ở Sơn Đông
Khi đi loạn lạc đao cung
Khi về đướng xá lưu thông được rồi
Lính áo ngắn trông coi chiến địa
Ngựa trận phi về phía gió thu
Chớ cùng lưu lạc tản cư
Ngóng hoài Kiệt Thạch bơ vơ chim hồng.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Các cô nay ở bên bờ bể,
Em ruột hai người ở núi đông.
Gặp cảnh binh đao khi phải biệt,
Lúc về thì thấy đường sá thông.
Chiến trường lo giữ đều binh sĩ,
Ngựa chiến phi trong thu gió lồng.
Đừng có rêu rao tan tất cả,
Hãy nhìn Kiệt Thạch bóng chim hồng.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời